Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2025/DS-ST

Ngày: 10/3/2025.

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐÓNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Phùng

Bà Nguyễn Minh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Ly – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Huỳnh – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 307/2024/TLST-DSST ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 413/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QÐST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QÐST-DS ngày 13/02/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S1);

Trụ sở chính: Số G, phố L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Xuân H – Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà An Thị Thanh T – Giám đốc phòng G.

Ủy quyền lại cho: Bà Phạm Thị H1 (Theo Quyết định số 08/2025/QĐ-BĐH1 ngày 05/3/2025); (Bà H1 có mặt).

Bị đơn: Ông Phạm Hồng S, sinh năm 1979; (vắng mặt)

HKTT: B301 – B4 L, quận Đ, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 24/6/2024 và văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Đ (Nay là Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S1) trình bày như sau:

Ông Phạm Hồng S có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Thành phố H – P (Gọi tắt là D), chi tiết như sau:

Tổng hạn mức cấp tín dụng: 50.000.000VND (Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng chẵn./.) theo Giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng V ngày 05/01/2010 và Phiếu luân chuyển – Trình hồ sơ thẻ tín dụng Visa D ngày 01/02/2010, chi tiết khoản vay như sau:

  • Số tiền vay: 50.000.000 VND (Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng./.)
  • Lãi suất: 18%/năm.
  • Thời hạn vay: 24 tháng (Từ ngày 01/02/2010 đến ngày 29/02/2012)
  • Mục đích vay: Mở thẻ tín dụng thanh toán hàng hóa.
  • Biện pháp bảo đảm: Tín chấp

Đến thời hạn trả nợ vay nhưng Ông Phạm Hồng S vẫn không thanh toán cho Ngân hàng theo như cam kết. Ngân hàng đã nhiều lần liên lạc với ông S để làm việc nhưng không được. Tính đến ngày 24/6/2024, khoản vay của Ông Phạm Hồng S đã quá hạn 51 kỳ và Ông Phạm Hồng S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tổng số tiền còn dư nợ với ngân hàng chi tiết như sau:

Tính đến ngày 24/06/2024, Ông Phạm Hồng S đã bị quá hạn 51 kỳ. Tổng số tiền còn dư nợ chi tiết như sau:

  • Dư nợ vốn: 43.702.862 VND
  • Dư nợ lãi: 41.065.020 VND
  • Dư nợ phí: 315.910.481 VND
  • Tổng cộng: 400.678.363 VND (Bằng chữ: Bốn trăm triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng/.)

Nay, Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S1) yêu cầu Tòa án nhân dân quận Đống Đa giải quyết:

  1. Buộc Ông Phạm Hồng S thanh toán toàn bộ dư nợ vốn, lãi và phí cho Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S2) theo như đúng nội dung cam kết trong Giấy đăng ký sử dụng Thẻ tín dụng Visa D đã ký ngày 05/01/2010, số tiền phải trả tính đến ngày 24/06/2024 là: 400.678.363 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng) trong đó:
    • Dư nợ vốn: 43.702.862 đồng
    • Dư nợ lãi: 41.065.020 đồng
    • Dư nợ phí: 315.910.481 đồng

    Và Ông Phạm Hồng S phải thanh toán toàn bộ tiền lãi phát sinh từ ngày 24/06/2024 đến ngày Ông Phạm Hồng S thực trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S2) theo lãi suất quá hạn được quy định tại các cam kết đã ký giữa Ông Phạm Hồng S và Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S1). Tuy nhiên nhằm hỗ trợ khách hàng thì tại ngày 03/12/2014, Ngân hàng đã đóng hệ thống tính lãi của khách hàng nên từ ngày 04/12/2014 đến nay khách hàng không phải đóng lãi cho Ngân hàng.

  2. Trường hợp ông Phạm Hồng S không thanh toán đúng hạn, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản của ông Phạm Hồng S để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S1).
  3. Ông Phạm Hồng S phải chịu mọi chi phí phát sinh.

Ngoài ra, ngân hàng không có yêu cầu gì khác.

Quá trình tiến hành giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thông báo cho ông Phạm Hồng S biết Tòa án đã thụ lý vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng do Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S1) khởi kiện đối với ông Phạm Hồng S và triệu tập ông S đến Tòa để giải quyết vụ án, nhưng ông S không đến Tòa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự giải quyết vụ án. Qua xác minh tại Công an phường L cung cấp ông Phạm Hồng S không còn sinh sống tại địa chỉ P - B, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội (là địa chỉ hộ khẩu thường trú và địa chỉ ghi trong hợp đồng tín dụng giữa ông S với Ngân hàng TMCP Đ, hiện tại ông S ở đâu không thông báo cho chính quyền địa phương biết. Theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật dân sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì việc ông S chuyển đi nơi khác không còn ở tại địa chỉ ghi trong Hợp đồng tín dụng mà ông Phạm Hồng S ký kết với Ngân hàng TMCP Đ thì ông S phải có nghĩa vụ thông báo cho Ngân hàng biết về việc thay đổi địa chỉ cư trú của ông S. Việc ông S thay đổi địa chỉ không thông báo cho Ngân hàng được coi là cố tình giấu địa chỉ nên theo quy định của pháp luật Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã niêm yết các thông báo, giấy báo và quyết định của Tòa án tại địa chỉ cư trú cuối cùng và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của ông S. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S1) vẫn giữ nguyên yêu cầu và đề nghị Tòa án nhân dân quận Đống Đa buộc ông Phạm Hồng S thanh toán cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 10/3/2025 là 400.678.363 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 43.702.862 đồng, nợ trong hạn là 41.065.020 đồng và nợ lãi quá hạn là 315.910.481 đồng.

Bị đơn ông Phạm Hồng S vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa có ý kiến:

  • - Về tố tụng: Quá trình Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi đưa Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Căn cứ các Điều 317, 318, khoản 6 Điều 320, 357, 418, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 21, 26, 35, 39 và Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S1) đối với ông Phạm Hồng S. Buộc ông Phạm Hồng S thực hiện nghĩa vụ trả nợ số tiền gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn của Giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng V ngày 05/01/2010 và Phiếu luân chuyển – Trình hồ sơ thẻ tín dụng Visa D ngày 01/02/2010, tổng số tiền tạm tính đến ngày 10/3/2025 là 400.678.363 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 43.702.862 đồng, nợ trong hạn là 41.065.020 đồng và nợ lãi quá hạn là 315.910.481 đồng. Ông S tiếp tục phải trả lãi kể từ ngày 11/3/2025 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ; Án phí: Ông Phạm Hồng S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án dân sự này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Phạm Hồng S có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại P - B, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa theo khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Giấy triệu tập, triệu tập ông Phạm Hồng S đến tham gia phiên tòa, thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự tại phiên tòa nhưng ông S vẫn vắng mặt. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Hồng S là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xét thấy, Giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng V ngày 05/01/2010 và Phiếu luân chuyển – Trình hồ sơ thẻ tín dụng Visa D ngày 01/02/2010 giữa Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S1) và ông Phạm Hồng S được các bên ký trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy xác định là Hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành với các bên. Ông S cấp thẻ với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, mục đích sử dụng: Mở thẻ tín dụng thanh toán hàng hoá. Ngày 01/02/2010, ông S đã được nhận thẻ tín dụng. Trong quá trình sử dụng thẻ đến nay ông S đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 4.578.538 đồng (Số tiền được trừ vào nợ gốc). Ngày 02/6/2011, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông S sang nợ quá hạn. Nay Ngân hàng xác nhận tạm tính đến ngày 10/3/2025 ông Phạm Hồng S còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn là: 400.678.363 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 43.702.862 đồng, nợ trong hạn là 41.065.020 đồng và nợ lãi quá hạn là 315.910.481 đồng. Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Hồng S phải thanh toán trả Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi nêu trên là có căn cứ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Phạm Hồng S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã được các bên thoả thuận ký kết theo Hợp đồng, Đồng thời vi phạm Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng. Do vậy, từ những nhận đinh trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc ông Phạm Hồng S phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S1) là: 400.678.363 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 43.702.862 đồng, nợ trong hạn là 41.065.020 đồng và nợ lãi quá hạn là 315.910.481 đồng.

Về án phí: Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S1) được chấp nhận yêu cầu nên không phải chịu án dân sự sơ thẩm. Ông Phạm Hồng S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán theo quy định của pháp luật.

Ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận;

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
  • - Căn cứ các Điều 463, 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn về áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S1) đối với ông Phạm Hồng S.
    1. Buộc ông Phạm Hồng S phải thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Đ số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 10/3/2025 là 400.678.363 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng), trong đó nợ gốc là 43.702.862 đồng, nợ trong hạn là 41.065.020 đồng và nợ lãi quá hạn là 315.910.481 đồng.
    2. Trường hợp ông Phạm Hồng S không thanh toán đúng hạn, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản ông Phạm Hồng S để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S1).
  2. Về án phí: Ông Phạm Hồng S phải chịu 20.027.135 đồng (Hai mươi triệu, không trăm hai mươi bảy nghìn, một trăm ba mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S1) 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 00065176 ngày 17/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương Mại cổ phần Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S1) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Phạm Hồng S vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • Các đương sự;
  • Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa;
  • TAND TP Hà Nội;
  • Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2025/DS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 51/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Đ (Nay là Ngân hàng TNHH Một thành viên S1) đối với ông Phạm Hồng S. 1.1. Buộc ông Phạm Hồng S phải thanh toán cho Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Đ số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 10/3/2025 là 400.678.363 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng), trong đó nợ 5 gốc là 43.702.862 đồng, nợ trong hạn là 41.065.020 đồng và nợ lãi quá hạn là 315.910.481 đồng. 1.2. Trường hợp ông Phạm Hồng S không thanh toán đúng hạn, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản ông Phạm Hồng S để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ (Nay là Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên S1).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger