|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH AN GIANG Bản án số: 51/2025/DS-ST Ngày 06/11/2025 “V/v tranh chấp hợp đồng cố đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - TỈNH AN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Lư Quốc Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Bà Nguyễn Ngọc Duyên.
2- Ông Hà Minh Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang. Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Nam. Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 104/2025/TLST-DS, ngày 26 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng cố đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 9 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 106/2025/QĐST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 19/TB-TĐTGMPT ngày 20 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Phan Chí T, sinh ngày 01/01/1991.CCCD số [...].
Địa chỉ : Ấp Hòa Đông, xã Đông Hòa, tỉnh An Giang
2. Đồng bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1943; Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1978; Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1977.
Cùng địa chỉ: Ấp Trung Hòa, xã Đông Hòa, tỉnh An Giang
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T3, sinh ngày 01/01/1991. CCCD số [...]
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, tỉnh An Giang
(Nguyên đơn có mặt; bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/5/2025 và các lời khai khác trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phan Chí T trình bày và yêu cầu như sau:
Vào ngày 23/07/2024, ông Nguyễn Văn T1 cùng với 02 người con của ông T1 là anh Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Văn T2 có cố cho anh một phần đất có diện tích là 07 công (tầm 3m) với giá 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn cố đến ngày 27/12/2024 là hết hạn. Hai bên có làm giấy tay với nhau và không có thế chấp bằng khoán.
Hai bên thỏa thuận tiền lãi 45.000.000đ/1 năm, từ đó đến nay ông Nguyễn Văn T1 cùng với 02 người con của ông T1 là anh Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Văn T2 chưa trả tiền lãi cho anh.
Khi quá thời hạn cố đất, đến ngày 09/05/2025 cha con ông T1 có trả cho anh được 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) tiền gốc, còn lại 50.000.000đ cha con ông T1 không hứa hẹn thời gian trả nợ, hiện nay phần đất này ông M đang canh tác và sử dụng.
Theo đơn khởi kiện, anh yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết:
- Tuyên bố hợp đồng cầm cố đất ngày 23/07/2024 giữa anh và ông Nguyễn Văn T1 cùng với 02 người con của ông T1 là anh Nguyễn Văn M và anh Nguyễn Văn T2 là vô hiệu.
- Buộc ông Nguyễn Văn T1 cùng 2 con Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn T2 phải trả lại cho anh số tiền cố đất và tiền lãi còn thiếu là 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng). Trong đó: Tiền cố đất 50.000.000đ; tiền lãi tạm tính theo Ngân hàng N 1,6%/tháng = (250.000.000₫ x 1,6% = 4.0000.000đ/tháng (từ tháng 07/2024 đến tháng 05/2025) = 10 tháng x 4.000.000đ = 40.000.000đ.
Tại biên biên ghi lời khai ngày 11 tháng 8 năm 2025, anh Phan Chí T xác định:
Số tiền bỏ ra cố đất của ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 là tiền của vợ chồng anh, khi cố đất thì vợ anh là Nguyễn Thị T3 có trực tiếp tham gia chứng kiến nhưng khi khởi kiện do không biết nên anh chỉ ghi anh là người khởi kiện.
Về việc cố đất thì vợ chồng anh thỏa thuận cố với 03 người là ông Nguyễn Văn T1 là cha, các con ông T1 là anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 lý do là lúc đó phần đất này ông T1 đang đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn đất thì đã chia cho ông M và ông T2 canh tác nên vợ chồng anh mới làm giấy với cả 03 người. Khi giao tiền cố đất 250.000.000đ thì giao cho anh T2 nhận, khi trả 200.000.000đ thì anh M là người trả tiền cho anh.
Đối với số tiền nhận cố đất của vợ chồng anh phía bên ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 thỏa thuận với nhau như thế nào thì anh không biết nhưng đến nay những người này không thực hiện hợp đồng với anh nên anh yêu cầu cả 03 người này cùng có trách nhiệm liên đới trả tiền cố đất lại cho anh.
Theo đơn khởi kiện, anh yêu cầu trả số tiền tổng cộng là 90.000.000đ trong đó tiền cố đất là 50.000.000đ, tiền lãi là 40.000.000đ. Nay anh xin rút lại yêu cầu đối với số tiền lãi 40.000.000đ, anh tiếp tục yêu cầu ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 liên đới có trách nhiệm trả lại cho anh số tiền là 50.000.000₫
Về phần đất cố, giấy thỏa thuận cố đất ghi là vợ chồng anh có trách nhiệm trả lại đất cho bên bị đơn khi bên B trả đủ tiền cố đất và lãi suất nhưng thực tế phần đất cố này phía bên ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 vẫn trực tiếp canh tác từ đó đến nay. Vợ chồng anh không có nhận đất canh tác.
Đồng bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 đã được Tòa án thông báo và triệu tập tham gia giải quyết vụ án nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T3 trình bày: Việc cố đất này do vợ chồng chị cùng thỏa thuận cố đất với ông Nguyễn Văn T1 cùng 02 con Nguyễn Văn M và Nguyễn Văn T2 nhưng quá trình thực hiện thỏa thuận này chủ yếu chồng chị là anh Phan Chí T thực hiện với bên kia, chị ít có tham gia. Chị thống nhất với ý kiến của chồng chị, không có bổ sung thêm nội dung gì. Khi Tòa án giải quyết bên kia trả tiền cố đất thì chị thống nhất giao trả số tiền này cho chồng chị mà không cẩn phải trả cho chị.
Tại phiên tòa hôm nay:
Anh Phan Chí T vẫn giữ nguyên nội dung trình bày yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng cầm cố đất ngày 23/07/2024 giữa anh và ông Nguyễn Văn T1 cùng với 02 người con của ông T1 là anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 là vô hiệu; buộc ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 liên đới có trách nhiệm trả lại cho anh số tiền là 50.000.000đ; về phần đất cố thì từ trước đến nay phía bên ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 vẫn quản lý, sử dụng chưa có giao đất cho anh.
Đối với yêu cầu trả tiền lãi 40.000.000đ, anh vẫn đồng ý rút lại phần yêu cầu này.
Các đồng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về phần thủ tục: Từ khi thụ lý hồ sơ vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) và Thư ký đã thực hiện trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.
Về phần nội dung:
Đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố hợp đồng cầm cố đất ngày 23/07/2024 giữa anh T và ông Nguyễn Văn T1 cùng với 02 người con của ông T1 là anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 là vô hiệu; buộc ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 liên đới có trách nhiệm trả lại cho anh T số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng); về phần đất cố, anh T chưa nhận nên không buộc anh T phải giao trả lại.
Ghi nhận ý kiến của anh Phan Chí T về việc rút lại phần yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 liên đới trả lại cho anh số tiền lãi là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng) để đình chỉ giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền xét xử: Xét mối quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về giao dịch cố đất, nơi bị đơn cư trú cũng như phần đất thỏa thuận giao dịch tọa lạc trên địa phận hành chính xã thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang nên căn cứ Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Về quan hệ pháp luật: Xét yêu cầu khởi kiện của anh Phan Chí T đối với ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 thì đây là tranh chấp về hợp đồng cố đất, giao dịch này được xác lập vào 2024 nên được điều chỉnh theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2025, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án khi vắng mặt bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T3 vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt, xét thấy chị Nguyễn Thị T3 đề nghị xét xử vắng mặt là trên cơ sở tự nguyện nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2025, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị T3.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Phan Chí T rút lại nội dung khởi kiện buộc ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 liên đới trả lại cho anh số tiền lãi là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng), xét thấy việc rút lại nội dung khởi kiện này là trên cơ sở tự nguyện, phù hợp theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận để đình chỉ giải quyết yêu cầu về tính lãi theo quy định tại các Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2025. HĐXX tiếp tục xem xét giải quyết đối với giao dịch cố đất.
[4] Về nội dung vụ án:
Anh Phan Chí T yêu cầu tuyên bố hợp đồng cầm cố đất ngày 23/07/2024 giữa anh T và ông Nguyễn Văn T1 cùng với 02 người con của ông T1 là anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 là vô hiệu; buộc ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 liên đới có trách nhiệm trả lại cho anh T số tiền là 50.000.000₫ (Năm mươi triệu đồng).
Về phần đất, anh Phan Chí T chưa nhận đất mà phía bị đơn ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 vẫn đang quản lý, sử dụng.
Xét yêu cầu của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, HĐXX thấy rằng:
Mặc dù các bị đơn ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của anh Phan Chí T nhưng qua các chứng cứ do anh T cung cấp cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án như: Giấy cố đất đề ngày 23/7/2024 có xác nhận của T4 ấp nơi có đất có căn cứ để HĐXX xác định là ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 có thỏa thuận cố cho anh Phan Chí T phần đất diện tích là 7 công tầm 03m, tương đương với diện tích là 9.072 m² với số tiền là 250.000.000₫ là đúng sự thật.
Trong quá trình thực hiện, anh Nguyễn Văn M có trả cho anh T được số tiền cố đất là 200.000.000đ còn lại 50.000.000đ đến nay chưa trả lại.
Qua nội dung trình bày của nguyên đơn và chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xác định đây là giao dịch cố đất, là một trong những giao dịch dân sự mà các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau để thực hiện, bên cố đất thì giao đất và nhận vàng, tiền hoặc tài sản khác của người nhận cố đất, còn bên nhận cố đất thì nhận đất để canh tác hoặc để cho người khác thuê lại theo tập quán ở địa phương, tuy nhiên khi giao dịch này xảy ra tranh chấp mà các bên không tự thỏa thuận được với nhau và yêu cầu xem xét giải quyết thì giao dịch trên được xem là vô hiệu theo quy định của pháp luật.
Bởi theo quy định tại khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định chung về quyền của người sử dụng đất thì người sử dụng đất chỉ có các quyền sau đây: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này.”
Do giao dịch cố đất giữa anh Phan Chí T với ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 là giao dịch dân sự chưa được pháp luật cho phép thực hiện, vì vậy giao dịch này được xác định là vô hiệu theo định tại Điều 123 Bộ Luật Dân sự năm 2015. Khi giao dịch dân sự được xác định là vô hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập và đồng thời các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, trả lại cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại Điều 131 Bộ Luật Dân sự năm 2015.
Từ những quy định này, HĐXX căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn để tuyên bố giao dịch cố đất lập ngày 23/7/2024 giữa anh Phan Chí T và ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 là vô hiệu, buộc ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 hoàn trả lại cho anh Phan Chí T số tiền cố đất còn lại là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
Về phần đất cố, khi thỏa thuận giao dịch cố đất cho đến nay anh Phan Chí T chưa nhận đất mà bên bị đơn vẫn quản lý, sử dụng nên không xem xét buộc anh Phan Chí T phải trả lại đất cố.
Về xác định trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ giao trả tiền:
Ghi nhận ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T3 để xem xét buộc ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 hoàn trả lại cho anh Phan Chí T số tiền cố đất còn lại là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
Đối với các bị đơn, trong hợp đồng cố đất không thể hiện rõ quyền và nghĩa vụ hoàn trả tiền của các bị đơn khi hợp đồng cố đất chấm dứt và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn M đã trực tiếp nhận được thông báo của Tòa án nhưng cũng không có ý kiến gì, mặc dù theo lợi trình bày của anh Phan Chí T thì số tiền hoàn trả 200.000.000đ sau khi hết thời hạn cố đất là anh Nguyễn Văn M là người giao trả cho anh. Do không có căn cứ xác định nghĩa vụ của từng người đối với số tiền còn lại phải hoàn trả cho anh T nên HĐXX thống nhất buộc ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại cho anh Phan Chí T số tiền cố đất 50.000.000đ theo quy định tại Điều 288 Bộ luật Dân sự năm 2015
Từ những chứng cứ và nhận định nêu trên, qua trao đổi thảo luận HĐXX thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, quan điểm đề nghị đại diện Viện Kiểm sát để tuyên bố hợp đồng cố đất là vô hiệu, buộc ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại cho anh Phan Chí T số tiền cố đất còn lại là 50.000.000₫.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) và án phí có ngạch đối với số tiền phải hoàn trả là 50.000.000₫ x 5% = 2.500.000đ. Tổng số tiền án phí vụ án ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 phải có trách nhiệm liên đới chịu là 2.800.000đ (Hai triệu tám trăm ngàn đồng).
Anh Phan Chí T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.250.000₫ (Hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0015221 ngày 20 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh, nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh An Giang
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 166, 167 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 123, 131, 288 Bộ luật dân sự 2015; các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 217, 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của anh Phan Chí T đối với ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 về yêu cầu trả tiền lãi với số tiền là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng).
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Chí T, tuyên bố giao dịch cố đất lập ngày 23/7/2024 giữa anh Phan Chí T và ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 là vô hiệu.
Buộc ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại cho anh Phan Chí T số tiền cố đất còn lại là 50.000.000₫ (Năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về phần đất cố, anh Phan Chí T chưa nhận nên không buộc anh Phan Chí T phải giao trả lại đất cố cho ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc ông Nguyễn Văn T1, anh Nguyễn Văn M, anh Nguyễn Văn T2 có trách nhiệm liên đới chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là là 2.800.000₫ (Hai triệu tám trăm ngàn đồng).
Anh Phan Chí T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.250.000₫ (Hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0015221 ngày 20 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh, nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7, tỉnh An Giang.
4. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/11/2025). Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lư Quốc Thịnh |
Bản án số 51/2025/DS-ST ngày 06/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng cố đất
- Số bản án: 51/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cố đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng cố đất giữa anh T và ông T1
