|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/DS-PT
Ngày 28/5/2025
“V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hán Hưởng và ông Trần Đình Chi.
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 26/5/2025 và ngày 28/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 25/2025/TLPT-DS, ngày 01/4/2025, về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế”, theo đơn kháng cáo của bị đơn là ông Vũ Văn Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị H và bà Vũ Thị H1, đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 46/2025/QĐ-PT ngày 22/4/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 01/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 5 năm 2025.
Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị N, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
- Bị đơn: Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Vũ Xuân T, sinh năm 1952. Địa chỉ: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- + Bà Vũ Thị L, sinh năm 1954. Địa chỉ: Khu C, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
- + Bà Vũ Thị L1, sinh năm 1959. Địa chỉ: Khu D, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
- + Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1961. Địa chỉ: Khu D, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
- + Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
- + Bà Phạm Thị H, sinh năm 1956. Địa chỉ khu B, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Phạm Thị H: Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (có mặt theo văn bản uỷ quyền ngày 26/5/2025).
- + Chị Vũ Thị H2, sinh năm 1981; anh Vũ Trọng T2, sinh năm 1987; Chị Vũ Thị Hương D, sinh năm 1984. Đều có địa chỉ: Khu B, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (đều vắng mặt).
- + Chị Vũ Thị Thanh H3, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
- + Chị Vũ Thanh T3, sinh năm 1991; Địa chỉ: Khu A, xa P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
- + Bà Trần Thị L2, sinh năm 1966. Địa chỉ: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn bà Vũ Thị N trình bày:
Bố bà là cụ Vũ Văn B, sinh năm 1906 (chết năm 1985), vợ là cụ Dương Thị V, sinh năm 1919 (chết năm 1999). Cụ B và cụ V có 08 người con chung, không có con nuôi hay con riêng nào khác.
- Ông Vũ Đình T4 (chết năm 2008), V1 là bà Phạm Thị H, sinh năm 1956, trú tại: Khu B, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Ông T4 bà H và có 05 người con là: Vũ Thị H3, sinh năm 1978; Vũ Thị H2, sinh năm 1981; Vũ Thị Hương D, sinh năm 1984; Anh Vũ Trọng T5, sinh năm 1987; Vũ Thanh T3, sinh năm 1991;
- Ông Vũ Xuân T, sinh năm 1952, trú tại: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Vũ Thị L, sinh năm 1954, trú tại khu C, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- Bà Vũ Thị L1, sinh năm 1959. Địa chỉ: Khu D, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1961. Địa chỉ: Khu D, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1967 (có vợ là bà Trần Thị L2, sinh năm 1966). Địa chỉ: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
- Bà Vũ Thị N, sinh năm 1956. Địa chỉ: Khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Di sản của cụ B và cụ V để lại là thửa đất số 37, tờ bản đồ 19, diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 2.870m2 (300m2 đất ở còn lại là đất cây lâu năm); Theo kết quả thẩm định thực tế là 2.828,7m2 tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/8/1999 đứng tên cụ Dương Thị V.
Trước khi chết, cụ V đã có thừa kế cho bà diện tích 528m2 trong diện tích đất của thửa đất 37, tờ bản đồ 19 trên theo Giấy uỷ quyền thừa kế lập ngày 12/10/1998. Sau khi được thừa kế, bà đã sử dụng đất và làm nhà ở từ năm 1997 đến nay. Hiện bà đang ở 1 mình trên ngôi nhà và diện tích đất trên.
Nay giữa bà và ông Đ không thỏa thuận được việc phân chia di sản thừa kế nên bà khởi kiện đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế theo di chúc và chia thừa kế theo pháp luật. Bà nhất trí nhận phần di sản thừa kế của bà L, bà L1, bà T1 cho bà được hưởng và bà không có nghĩa vụ thánh toán gì cho bà L, bà L1, bà T1.
[2] Bị đơn là ông Vũ Văn Đ trình bày:
Bố ông là cụ Vũ Văn B, sinh năm 1906 (chết năm 1985), vợ là cụ Dương Thị V, sinh năm 1919 (Chết năm 1999). Cụ B và cụ V có 08 người con chung, không có con nuôi hay con riêng nào khác như bà N trình bày là đúng.
Di sản của cụ B và cụ V để lại là thửa đất số 37, tờ bản đồ 19, tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 20/8/1999 đứng tên cụ Dương Thị V. Nguồn gốc thửa đất trên là của mẹ ông là cụ Dương Thị V, vì cụ B là bố ông đã chết từ lâu. Cụ B và cụ V đã sống trên thửa đất từ những năm 1955. Năm 1985, cụ B chết, cụ V vẫn ở trên thửa đất từ đó đến khi chết. Trên đất trước đây, cụ B và cụ V có 01 ngôi nhà đắp đất, nhưng hiện nay ngôi nhà không còn. Toàn bộ tài sản trên đất là 01 ngôi nhà cấp 4, 03 gian, nhà bếp và công trình phụ và 1 số cây chè là do vợ chồng ông xây dựng nên.
Trên phần diện tích đất bà N có xây 01 ngôi nhà cấp 4, 03 gian và công trình phụ. Xây khoảng năm 1996. Bà N là hộ đơn thân, bà chỉ ở một mình không có chồng con gì.
Khi hai cụ B và cụ V chết đều không để lại di chúc. Đối với giấy ủy quyền mà bà N cung cấp và có chữ ký của 1 số người trên giấy thì ông xác định không phải là di chúc.
Nay bà N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc và chia thừa kế theo pháp luật thì quan điểm của ông là không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N và ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ông nhất trí nhận phần thừa kế của bà L, bà L1, bà T1 và các con bà H cho ông. Đối với yêu cầu kháng cáo của bà H1 và bà H ông nhất trí trả lai phần diện tích đất là di sản thừa kế của bà H1 và bà H đã cho ông được hưởng ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, ngoài ra ông tự nguyện tháo dỡ phần công trình xây dựng trên diện tích đất ông và vợ ông là bà Trần Thị L2 đang sử dụng, đối với cây cối hoa màu trên diện tích đất phân chia cho bà H1 ông cho bà H1 được hưởng, ông không yêu cầu bà H1 phải bồi thường giá trị công trình bị tháo dỡ, cây cối hoa màu trên diện tích đất khi phân chia di sản thừa kế. Ngoài ra ông tự nguyện cho bà H1 thêm diện tích đất ở để bà H1 đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ và cho bà N toàn bộ cây cối hoa màu trên diện tích đất phân chia cho bà N. Bà N và bà H1 không phải thanh toán lại cho ông giá trị tài sản ông đã cho.
[3] Quan điểm của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ Xuân T trình bày:
Ông T thống nhất với lời khai của bà N và ông Đ về quan hệ hôn nhân, huyết thống và xác định cụ Vũ Văn B, sinh năm 1906 (chết năm 1985) và cụ Dương Thị V, sinh năm 1919 (Chết năm 1999). Cụ B và cụ V có 08 người con chung, không có con nuôi hay con riêng nào khác như bà N ông Đ trình bày là đúng.
Cụ B và cụ V có thửa đất số 37, tờ bản đồ 19, tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 20/8/1999 đứng tên cụ Dương Thị V.
Nguồn gốc thửa đất trên là của cụ Dương Thị V và cụ Vũ Văn B. Cụ B và cụ V đã sống trên thửa đất từ những năm 1955. Năm 1985, cụ B chết, cụ V vẫn ở trên thửa đất từ đó đến khi chết.
Trên đất trước đây, cụ B và cụ V có 01 ngôi nhà đắp đất, nhưng hiện nay ngôi nhà không còn. Toàn bộ tài sản trên đất là 01 ngôi nhà cấp 4, 03 gian, nhà bếp và công trình phụ và 1 số cây chè là do vợ chồng ông Đ xây dựng.
Cụ B chết không để lại di chúc, cụ V chết năm 1999, trước khi chết có để lại di chúc cho bà N 1 phần diện tích đất của thửa đất số 37, tờ bản đồ 19, tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Cụ V không biết chữ nên anh cả là ông T4 là người đã viết di chúc và các con nếu ai đồng ý thì ký vào văn bản, còn ai không đồng ý thì không phải ký.
Nay bà N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc và chia thừa kế theo pháp luật thì quan điểm của ông là nhất trí với di chúc của cụ V, đồng ý để bà N tiếp tục được ở trên phần đất được cụ V cho. Nếu phải phân chia di sản thừa kế phần di sản ông được hưởng ông cho bà N, bà N không phải thanh toán lại giá trị di sản cho ông. Do tuổi cao và sức khỏe yếu nên ông đề nghị Tòa án cho ông vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử vụ án.
- Bà Vũ Thị L trình bày:
Bà L thống nhất với lời trình bày của bà N, ông Đ và những người khác về quan hệ hôn nhân, huyết thống, ngày cụ B, cụ V chết và phần tài sản như lời khai và lời trình bày là đúng.
Khi cụ B chết không để lại di chúc, cụ V chết có để lại di chúc đúng như bản di chúc bà N nộp cho Tòa án.
Nay bà N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc và chia thừa kế theo pháp luật thì quan điểm của bà là đề nghị nếu di chúc hợp pháp thì bà nhất trí chia theo di chúc. Nếu phải chia theo pháp luật thì bà đề nghị Tòa án giao cho ông Đ và bà N mỗi người được hưởng ½ phần di sản bà được hưởng và không yêu cầu ông Đ, bà N phải thanh toán lại giá trị di sản bằng tiền cho bà.
- Bà Vũ Thị L1 trình bày:
Bà L thống nhất với lời trình bày của bà N, ông Đ và những người khác về quan hệ hôn nhân, huyết thống, ngày cụ B, cụ V chết và phần tài sản như lời khai và lời trình bày là đúng.
Cụ B và cụ V có thửa đất số 37, tờ bản đồ 19, tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 20/8/1999 đứng tên cụ Dương Thị V.
Nguồn gốc thửa đất trên là của cụ Dương Thị V và cụ Vũ Văn B. Cụ B và cụ V đã sống trên thửa đất từ những năm 1955. Năm 1985, cụ B chết, cụ V vẫn ở trên thửa đất từ đó đến khi chết.
Trên đất trước đây, cụ B và cụ V có 01 ngôi nhà đắp đất, nhưng hiện nay ngôi nhà không còn. Toàn bộ tài sản trên đất là 01 ngôi nhà cấp 4, 03 gian, nhà bếp và công trình phụ và 1 số cây chè là do vợ chồng ông Đ xây dựng.
Cụ B chết không để lại di chúc, cụ V chết có để lại di chúc là phần cho bà N. Di chúc có từ năm nào bà không nhớ chỉ biết là có từ khi ông T4 còn sống. Cụ V không biết chữ nên anh cả là ông T4 là người đã viết di chúc và các con nếu ai đồng ý thì ký vào văn bản, còn ai không đồng ý thì không phải ký.
Nay bà N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc và chia thừa kế theo pháp luật thì quan điểm của bà là nhất trí với di chúc của cụ V, đồng ý để bà N tiếp tục được ở trên phần đất được cụ V cho. Nếu phải chia theo pháp luật thì bà đề nghị Tòa án giao cho ông Đ và bà N mỗi người được hưởng ½ phần di sản bà được hưởng và không yêu cầu ông Đ, bà N phải thanh toán lại giá trị di sản bằng tiền cho bà. Do tuổi cao và sức khỏe yếu nên bà đề nghị Tòa án cho bà vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử vụ án.
- Bà Vũ Thị T1 trình bày:
Bà L thống nhất với lời trình bày của bà N, ông Đ và những người khác về quan hệ hôn nhân, huyết thống, ngày cụ B, cụ V chết và phần tài sản như lời khai và lời trình bày là đúng.
Khi cụ B chết không để lại di chúc, cụ V chết có để lại di chúc đúng như bản di chúc bà N nộp cho Tòa án.
Nay bà N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc và chia thừa kế theo pháp luật thì quan điểm của bà là đề nghị nếu di chúc hợp pháp thì bà nhất trí chia theo di chúc. Nếu phải chia theo pháp luật thì bà đề nghị Tòa án giao cho ông Đ và bà N mỗi người được hưởng ½ phần di sản bà được hưởng và không yêu cầu ông Đ, bà N phải thanh toán lại giá trị di sản bằng tiền cho bà.
- Bà Vũ Thị H1 trình bày:
Bà L thống nhất với lời trình bày của bà N, ông Đ và những người khác về quan hệ hôn nhân, huyết thống, ngày cụ B, cụ V chết và phần tài sản như lời khai và lời trình bày là đúng.
Đối với bản di chúc của cụ V cho bà N 1 phần diện tích đất của thửa đất số 37, tờ bản đồ 19 thì bà không biết di chúc như thế nào và bà cũng không ký gì trong di chúc. Nay bà N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc và chia thừa kế theo pháp luật thì quan điểm của bà là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bà H1 đề nghị phần di sản bà được hưởng bà không cho ông Đ như giai đoạn sơ thẩm, bà đề nghị được hưởng bằng quyền sử dụng đất. Đối với các công trình xây dựng và cây cối hoa màu trên diện tích đất phân chia cho bà là tài sản của ông Đ và bà L2 bà đồng ý với quan điểm đề nghị của ông Đ, bà L2.
- Bà Phạm Thị H uỷ quyền cho bà H1 trình bày: Bà H đề nghị được hưởng phần di sản thừa kế của chồng bà là ông Vũ Đình T4, phần di sản này bà cho bà H1, bà không yêu cầu bà H1 phải thanh toán giá trị di sản bằng tiền cho bà.
- Chị Vũ Thị H3; chị Vũ Thị H2, chị Vũ Thị Hương D, Anh Vũ Trọng T5, chị Vũ Thanh T3 đều thống nhất trình bày:
Chị Vũ Thị H3; chị Vũ Thị H2, chị Vũ Thị Hương D, Anh Vũ Trọng T5, chị Vũ Thanh T3 thống nhất với lời trình bày của bà N, ông Đ và những người khác về quan hệ hôn nhân, huyết thống, ngày cụ B, cụ V chết và phần tài sản như lời khai và lời trình bày là đúng. Nay bà N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc và chia thừa kế theo pháp luật thì quan điểm của Chị Vũ Thị H3; chị Vũ Thị H2, chị Vũ Thị Hương D, Anh Vũ Trọng T5, chị Vũ Thanh T3 là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Phần di sản Chị Vũ Thị H3; chị Vũ Thị H2, chị Vũ Thị Hương D, Anh Vũ Trọng T5, chị Vũ Thanh T3 được hưởng đề nghị Tòa án giao cho ông Đ và đều không yêu cầu ông Đ phải thanh toán giá trị di sản bằng tiền.
- Bà Trần Thị L2 trình bày:
Tại biên bản lấy lời khai bà L2 trình bày: Bà là vợ ông Đ, nay bà N khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc và chia thừa kế theo pháp luật thì quan điểm của bà nhất trí với quan điểm của ông Đ trình bày về nguồn gốc thửa đất, tài sản trên đất và quan hệ nhân thân. Bà đồng ý với quan điểm đề nghị của ông Đ tại phiên toà Phúc thẩm đối với tài sản trên đất khi phân chia di sản thừa kế cho bà H1 và bà N.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 Hội đồng thẩm định và Hội đồng định giá đã thẩm định, định giá tài sản. Các đương sự đều nhất trí với kết quả thẩm định diện tích đất thực tế hiện còn 2.828,7m2 với giá 600.000đ/1m2 đất ở và 184.400đ/1m2 đất vườn.
[5] Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ quyết định:
- Căn cứ các Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Điểm đ khoản 1 Điều 12, Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị N đối với yêu cầu chia thừa kế theo di chúc.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị N về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật.
Chia di sản thừa kế của cụ Vũ Văn B và cụ Dương Thị V là quyền sử dụng đất, thửa đất số 37, tờ bản đồ 19, diện tích theo hiện trạng sử dụng là 2.828,7m2 (trong đó có 300m2 đất ở và 2.528,7m2 đất vườn) tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/8/1999 đứng tên cụ Dương Thị V cụ thể như sau:
- Phần di sản bà Vũ Thị N, ông Vũ Văn Đ, ông Vũ Xuân T, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị L1, bà Vũ Thị T1, bà Vũ Thị H1 được hưởng là 196,43m2 (20,83m2 đất ở và 175,60m2 đất vườn) + 157,15m2 (16,66m2 đất ở và 140,49m2 đất vườn) = 353,58m2 (37,49m2 đất ở và 316,09m2 đất vườn) trị giá là 80.654.560₫ (Tám mươi triệu sáu trăm năm mươi bốn nghìn năm trăm sáu mươi đồng).
Phần di sản bà Phạm Thị H và chị Vũ Thị H3, chị Vũ Thị H2, chị Vũ Thị Hương D, anh Vũ Trọng T5, chị Vũ Thanh T3 mỗi người được hưởng 58,93m2 (6,25m2 đất ở và 52,68m2 đất vườn) trị giá là 13.442.000đ (Mười ba triệu bốn trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị H, chị Vũ Thị H3, Vũ Thị H2, Vũ Thị Hương D, Anh Vũ Trọng T5, Vũ Thanh T3 về việc giao toàn bộ phần di sản thừa kế được hưởng cho ông Vũ Văn Đ.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Vũ Thị H1 về việc giao toàn bộ phần di sản thừa kế được hưởng cho ông Vũ Văn Đ.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị L1, bà Vũ Thị T1 bà Vũ Thị H1 về việc giao toàn bộ phần di sản thừa kế được hưởng cho ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị N mỗi người ½ phần di sản thừa kế được hưởng.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ Xuân T về việc giao toàn bộ phần di sản thừa kế được hưởng 353,58m2 (37,49m2 đất ở và 316,09m2 đất vườn) cho bà Vũ Thị N.
Phần di sản ông Vũ Văn Đ được hưởng tổng cộng là 1.591,11m2 (168,7m2 đất ở và 1.422,4m2 đất vườn), của thửa đất số 37, tờ bản đồ 19, tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có các chỉ giới là 48, 49, 50, 51, 52, 24, 23, 22, 21, 20, 19, 18, 17, 16, 15, 53, 48. (Có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
Phần di sản bà Vũ Thị N được hưởng tổng cộng là 1.237,54m2 (131,21m2 đất ở và 1.106,31m2 đất vườn), của thửa đất số 37, tờ bản đồ 19, tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, có các chỉ giới là 1, 2, 3, 4, 5, 6, 48, 49, 50, 51, 52, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 1. (Có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
Đối với các tài sản trên đất:
- Đối với các cây cọ nằm trên phần đất của ai được chia thì người đó được hưởng.
- Giao cho bà N được quyền sở hữu, sử dụng diện tích chè là 283m2 (theo sơ đồ hiện trạng) và bà N phải thanh toán cho ông Vũ Văn Đ, bà Trần Thị L2 trị giá chè số tiền 3.113.000đ (Ba triệu một trăm mười ba nghìn đồng).
- Buộc ông Vũ Văn Đ khai thác và di dời toàn bộ các cây quế, cây keo (tràm), cây mít, cây bưởi, cây dừa, cây cau, cây bưởi ghép chanh, cây xoan, cây chuối và các cây cối lâm lộc khác nằm trên phần đất bà N được chia.
- Đối với các cây cối lâm lộc không có giá trị khác trên đất nằm trong phần diện tích đất của ai được chia thì người đó được quyền sở hữu, sử dụng.
Bà Vũ Thị N, ông Vũ Văn Đ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định, bản án của Tòa án.
Về lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Vũ Thị N tự nguyện chịu lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tương ứng với phần di sản được hưởng và phần di sản được cho số tiền là 5.250.000đ (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), ông Vũ Văn Đ tự nguyện chịu lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tương ứng với phần di sản được hưởng và phần di sản được cho số tiền là 6.750.000đ. Xác nhận bà N đã nộp lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền là 12.000.000₫ (Mười hai triệu đồng). Ông Vũ Văn Đ phải trả cho bà Vũ Thị N số tiền 6.750.000₫ (Sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) lệ phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.
Về án phí: Ông Vũ Văn Đ phải chịu 4.032.700đ (Bốn triệu không trăm ba mươi hai nghìn bảy trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm và ông Vũ Văn Đ tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm của chị Vũ Thị H3, chị Vũ Thị H2, chị Vũ Thị Hương D, anh Vũ Trọng T5, chị Vũ Thanh T3 số tiền là 3.360.500₫ (Ba triệu ba trăm sáu mươi nghìn năm trăm đồng).
Bà Vũ Thị N, ông Vũ Xuân T, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị L1, bà Vũ Thị T1, bà Vũ Thị H1, bà Phạm Thị H là người cao tuổi có đơn xin miễn tiền án phí nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bản án còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
[6] Nội dung kháng cáo:
- - Ngày 03/01/2025, Bà Phạm Thị H kháng cáo đề nghị được lấy lại phần di sản bà và các con được hưởng (quá trình giải quyết vụ án bà yêu cầu Tòa án chia phần di sản bà và các con đưởng hưởng giao cho ông Đ); Đề nghị được chia phần đất trước nhà ông Đ; Phần di sản bà được hưởng đề nghị giao lại cho bà Vũ Thị H1.
- - Ngày 03/01/2025, Bà Vũ Thị H1 kháng cáo đề nghị được lấy lại phần di sản bà được hưởng (quá trình giải quyết vụ án bà yêu cầu Tòa án chia phần di sản bà được hưởng giao cho ông Đ); Đề nghị được chia đất phía trước nhà thờ bố mẹ mà nay gia đình ông Đ đang ở để bà sinh sống.
- - Ngày 03/01/2025, Ông Vũ Văn Đ kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chia lại hiện trạng thửa đất vì Tòa án cấp sơ thẩm đã chia cho bà Vũ Thị N phần đất chắn trước gian giữa ngôi nhà ông đang ở, làm ảnh hưởng đến phần thờ cúng tổ tiên.
[7] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm:
- Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ bổ sung di sản thừa kế là thửa đất số 37, tờ bản đồ 19, xác định như sau:
+ Phần đất sử dụng thực tế nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có diện tích là 2.828,7m2, bị thiếu 41,3m2 so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (2870m2) nhưng các đương sự đều không đề nghị giải quyết làm rõ.
+ Phần đất sử dụng thực tế nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có diện tích là 248,6m2, các đương sự đều không đề nghị giải quyết.
- Nguyên đơn là bà Vũ Thị N và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo nên không có ý kiến gì thêm.
- Bị đơn là ông Vũ Văn Đ xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Trường hợp chia thừa kế cho bà Vũ Thị H1 không đủ 50m2 diện tích đất ở thì ông Đ tự nguyện chuyển đổi một phần diện tích đất ở của mình, lấy một phần diện tích đất vườn của bà H1, để bà H1 có 50m2 đất ở, đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Đ và vợ ông Đ là bà Trần Thị L2 đều đề nghị trường hợp chia thừa kế diện tích đất cho người khác mà có các công trình xây dựng của gia đình ông chồng lấn lên thì ông tự nguyện tháo dỡ, không yêu cầu thanh toán giá trị. Đối với các cây cối hoa màu trên đất thì ông Đ và bà L2 cho những người được hưởng thừa kế có diện tích đất được hưởng, không yêu cầu thanh toán giá trị tài sản.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị H1, bà Phạm Thị H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không bổ sung tài liệu chứng cứ gì thêm.
[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự đối với phiên tòa phúc thẩm.
Về nội dung vụ án:
[1] Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đình chỉ kháng cáo của ông Vũ Văn Đ đối với yêu cầu chia lại hiện trạng thửa đất.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị H đối với yêu cầu lấy lại phần di sản thừa kế của: chị Vũ Thị H3, chị Vũ Thị H2, chị Vũ Thị Hương D, anh Vũ Trọng T5, chị Vũ Thanh T3.
Chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị H về việc lấy lại phần di sản bà được quyền thừa kế và giao lại cho bà Vũ Thị H1.
Chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị H1 đối với yêu cầu lấy lại phần di sản thừa kế bà được hưởng thừa kế.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
[2] Căn cứ các Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật dân sự. Khoản 2 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 148, khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12, Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Xác định di sản thừa kế của cụ Vũ Văn B và cụ Dương Thị V để lại là quyền sử dụng thửa đất số 37, tờ bản đồ 19, diện tích theo hiện trạng sử dụng là 2.828,7m2 (trong đó có 300m2 đất ở và 2.528,7m2 đất vườn) tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/8/1999 đứng tên cụ Dương Thị V trị giá 646.292.280 ₫ (sáu trăm bốn mươi sáu triệu hai trăm chín mươi hai nghìn hai trăm tám mươi đồng) (600.000đ/1m2 đất ở, 184.400đ/1m2 đất vườn).
- Hàng thừa kế thứ nhất của cụ B và cụ V gồm 08 người: Ông Vũ Đình T4 (ông T4 chết năm 2008, người được hưởng thừa kế của ông T4 gồm 06 người: bà Phạm Thị H, chị Vũ Thị H3, chị Vũ Thị H2, chị Vũ Thị Hương D, anh Vũ Trọng T5, chị Vũ Thanh T3); Ông Vũ Xuân T; Bà Vũ Thị L; Vũ Thị L1; Bà Vũ Thị T1; Bà Vũ Thị H1; Ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị N.
- Phân chia di sản thừa kế như sau (Có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo):
+ Chia thừa kế cho bà Vũ Thị N được nhận quyền sử dụng diện tích đất 1.237,5m2 (131m2 đất ở và 1.106,5m2 đất vườn) trị giá 282.638.600đ (hai trăm tám mươi hai triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm đồng) (600.000đ/1m2 đất ở, 184.400đ/1m2 đất vườn). Theo chỉ giới: "1,2,3,4,5,48,49,50,51,58,26,27,28,29,30,31,32,33,34,35,36,37,38,39,40,41,42, 43,44,45,46,47,1”. Các tài sản trên phần diện tích đất là cây cối lâm lộc bà N được quyền khai thác và sử dụng.
+ Chia thừa kế cho ông Vũ Văn Đ được nhận quyền sử dụng diện tích đất 1.179m2 (119m2 đất ở và 1.060m2 đất vườn) trị giá 266.864.000đ (hai trăm sáu mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi tư nghìn đồng) (600.000đ/1m2 đất ở, 184.400đ/1m2 đất vườn). Theo chỉ giới: "16,17,18,19,20,21,22,23,24,25,26,58,51,52,53,54,55,56,57,16”. Các tài sản trên phần diện tích đất là công trình xây dựng và cây cối lâm lộc đều là của vợ chồng ông Đ, bà L2, vì vậy ông Đ, bà L2 tiếp tục sử dụng.
+ Chia thừa kế cho bà Vũ Thị H1 được nhận quyền sử dụng diện tích đất 412m2 (50m2 đất ở, 362m2 đất vườn) trị giá 96.752.800đ (chín mươi sáu triệu bẩy trăm năm mươi hai nghìn tám trăm đồng), (600.000đ/1m2 đất ở, 184.400đ/1m2 đất vườn). Theo chỉ giới “5,48,49,50,51,52,53,54,55,56,7,6,5”. Phần diện tích đất bà H1 được chia có một phần bị chồng lấn với công trình xây dựng của vợ chồng ông Vũ Văn Đ, bà Trần Thị L2 bao gồm: nhà bếp (diện tích 8,2m2 theo chỉ giới A,B,C,D,A); nhà vệ sinh (diện tích 6,9m2 theo chỉ giới C,D,E,G,H,I,C); nhà kho (diện tích 10,9m2 theo chỉ giới H,I,K,M,N,H); nhà bếp (diện tích 11,7m2 theo chỉ giới F,G,H,N,Q,F); mái tôn (diện tích 15,8m2 theo chỉ giới N,O,Ô,55,54,Q,N); mái bờ lô xi măng (diện tích 4,3m2 theo chỉ giới V,P,S,U,V). Ông Đ có nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ các công trình nêu trên để trả mặt bằng đất cho bà H1.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ Văn Đ và bà Trần Thị L2 về việc giao toàn bộ tài sản là các cây cối hoa màu trên diện tích đất phân chia thừa kế cho bà Vũ Thị N và bà Vũ Thị H1 được quyền sở hữu, sử dụng và khai thác. Bà Vũ Thị N và bà Vũ Thị H1 không phải thanh toán lại giá trị tài sản đối với các cây cối hoa màu trên cho ông Vũ Văn Đ và bà Trần Thị L2.
Bà Vũ Thị N, ông Vũ Văn Đ, bà Vũ Thị H1 có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định, bản án của Tòa án.
[2] Về lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Vũ Thị N tự nguyện chịu lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tương ứng với phần di sản được hưởng và phần di sản được cho số tiền là 5.250.000đ (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), ông Vũ Văn Đ tự nguyện chịu lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tương ứng với phần di sản được hưởng và phần di sản được cho số tiền là 6.750.000đ. Xác nhận bà N đã nộp lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền là 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng). Ông Vũ Văn Đ phải trả cho bà Vũ Thị N số tiền 6.750.000đ (Sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) lệ phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.
Về chi phí thẩm định tại chỗ và chi phí trích đo thửa đất ở cấp phúc thẩm ông Vũ Văn Đ nộp thay bà Vũ Thị H1 với số tiền 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng) ông Đ tự nguyện chịu cả (xác nhận ông Đ đã nộp đủ).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Vũ Văn Đ phải chịu 13.343.000đ (mười ba triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Vũ Thị N, ông Vũ Xuân T, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị L1, bà Vũ Thị T1, bà Vũ Thị H1, bà Phạm Thị H được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Trả lại cho ông Vũ Văn Đ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001486 và ngày 19/3/2025 tại Chi cục thi hành án huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Bà Phạm Thị H và bà Vũ Thị H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo và kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đình chỉ kháng cáo của ông Vũ Văn Đ đối với yêu cầu chia lại hiện trạng thửa đất.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị H đối với yêu cầu lấy lại phần di sản thừa kế của: chị Vũ Thị H3, chị Vũ Thị H2, chị Vũ Thị Hương D, anh Vũ Trọng T5, chị Vũ Thanh T3.
Chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị H về việc lấy lại phần di sản bà được quyền thừa kế và giao lại cho bà Vũ Thị H1.
Chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị H1 đối với yêu cầu lấy lại phần di sản thừa kế bà được hưởng thừa kế.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
[2] Căn cứ các Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật dân sự. Khoản 2 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 148, khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12, Khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Xác định di sản thừa kế của cụ Vũ Văn B và cụ Dương Thị V để lại là quyền sử dụng thửa đất số 37, tờ bản đồ 19, diện tích theo hiện trạng sử dụng là 2.828,7m2 (trong đó có 300m2 đất ở và 2.528,7m2 đất vườn) tại khu F, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/8/1999 đứng tên cụ Dương Thị V trị giá 646.292.280₫ (sáu trăm bốn mươi sáu triệu hai trăm chín mươi hai nghìn hai trăm tám mươi đồng) (600.000đ/1m2 đất ở, 184.400đ/1m2 đất vườn).
- Hàng thừa kế thứ nhất của cụ B và cụ V gồm 08 người: Ông Vũ Đình T4 (ông T4 chết năm 2008, người được hưởng thừa kế của ông T4 gồm 06 người: bà Phạm Thị H, chị Vũ Thị H3, chị Vũ Thị H2, chị Vũ Thị Hương D, anh Vũ Trọng T5, chị Vũ Thanh T3); Ông Vũ Xuân T; Bà Vũ Thị L; Vũ Thị L1; Bà Vũ Thị T1; Bà Vũ Thị H1; Ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị N.
- Phân chia di sản thừa kế như sau (Có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo):
+ Chia thừa kế cho bà Vũ Thị N được nhận quyền sử dụng diện tích đất 1.237,5m2 (131m2 đất ở và 1.106,5m2 đất vườn) trị giá 282.638.600đ (hai trăm tám mươi hai triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn sáu trăm đồng) (600.000đ/1m2 đất ở, 184.400đ/1m2 đất vườn). Theo chỉ giới: "1,2,3,4,5,48,49,50,51,58,26,27,28,29,30,31,32,33,34,35,36,37,38,39,40,41,42, 43,44,45,46,47,1”. Các tài sản trên phần diện tích đất là cây cối lâm lộc bà N được quyền khai thác và sử dụng.
+ Chia thừa kế cho ông Vũ Văn Đ được nhận quyền sử dụng diện tích đất 1.179m2 (119m2 đất ở và 1.060m2 đất vườn) trị giá 266.864.000đ (hai trăm sáu mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi tư nghìn đồng) (600.000đ/1m2 đất ở, 184.400đ/1m2 đất vườn). Theo chỉ giới: "16,17,18,19,20,21,22,23,24,25,26,58,51,52,53,54,55,56,57,16”. Các tài sản trên phần diện tích đất là công trình xây dựng và cây cối lâm lộc đều là của vợ chồng ông Đ, bà L2, vì vậy ông Đ, bà L2 tiếp tục sử dụng.
+ Chia thừa kế cho bà Vũ Thị H1 được nhận quyền sử dụng diện tích đất 412m2 (50m2 đất ở, 362m2 đất vườn) trị giá 96.752.800đ (chín mươi sáu triệu bẩy trăm năm mươi hai nghìn tám trăm đồng), (600.000đ/1m2 đất ở, 184.400đ/1m2 đất vườn). Theo chỉ giới “5,48,49,50,51,52,53,54,55,56,7,6,5”. Phần diện tích đất bà H1 được chia có một phần bị chồng lấn với công trình xây dựng của vợ chồng ông Vũ Văn Đ, bà Trần Thị L2 bao gồm: nhà bếp (diện tích 8,2m2 theo chỉ giới A,B,C,D,A); nhà vệ sinh (diện tích 6,9m2 theo chỉ giới C,D,E,G,H,I,C); nhà kho (diện tích 10,9m2 theo chỉ giới H,I,K,M,N,H); nhà bếp (diện tích 11,7m2 theo chỉ giới F,G,H,N,Q,F); mái tôn (diện tích 15,8m2 theo chỉ giới N,O,Ô,55,54,Q,N); mái bờ lô xi măng (diện tích 4,3m2 theo chỉ giới V,P,S,U,V). Ông Đ có nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ các công trình nêu trên để trả mặt bằng đất cho bà H1.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ Văn Đ và bà Trần Thị L2 về việc giao toàn bộ tài sản là các cây cối hoa màu trên diện tích đất phân chia thừa kế cho bà Vũ Thị N và bà Vũ Thị H1 được quyền sở hữu, sử dụng và khai thác. Bà Vũ Thị N và bà Vũ Thị H1 không phải thanh toán lại giá trị tài sản đối với các cây cối hoa màu trên cho ông Vũ Văn Đ và bà Trần Thị L2.
Bà Vũ Thị N, ông Vũ Văn Đ, bà Vũ Thị H1 có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định, bản án của Tòa án.
[2] Về lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà Vũ Thị N tự nguyện chịu lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tương ứng với phần di sản được hưởng và phần di sản được cho số tiền là 5.250.000đ (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), ông Vũ Văn Đ tự nguyện chịu lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tương ứng với phần di sản được hưởng và phần di sản được cho số tiền là 6.750.000đ. Xác nhận bà N đã nộp lệ phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền là 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng). Ông Vũ Văn Đ phải trả cho bà Vũ Thị N số tiền 6.750.000đ (Sáu triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) lệ phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.
Về chi phí thẩm định tại chỗ và chi phí trích đo thửa đất ở cấp phúc thẩm ông Vũ Văn Đ nộp thay bà Vũ Thị H1 với số tiền 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng) ông Đ tự nguyện chịu cả (xác nhận ông Đ đã nộp đủ).
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Vũ Văn Đ phải chịu 13.343.000đ (mười ba triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Vũ Thị N, ông Vũ Xuân T, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị L1, bà Vũ Thị T1, bà Vũ Thị H1, bà Phạm Thị H được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Trả lại cho ông Vũ Văn Đ tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001486 và ngày 19/3/2025 tại Chi cục thi hành án huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Bà Phạm Thị H và bà Vũ Thị H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Anh Tuấn |
Bản án số 51/2025/DS-PT ngày 28/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 51/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản giữa bà N và ông Đ
