TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2025/DS-PT Ngày 05/6/2025 V/v tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công
Các Thẩm phán:
Ông Võ Văn Bình;
Ông Trần Văn Thưởng.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Vân, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Ông Trần Quốc Tuấn - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 13/2025/TLPT-DS ngày 19/02/2025 về việc "Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn T; địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn D; địa chỉ: tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, Gia Lai. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Quốc L; địa chỉ: thôn B, xã K, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Phi H; địa chỉ: Thôn I, xã I, P, tỉnh Gia Lai (Giấy ủy quyền ngày 03/6/2025). Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Phi H; địa chỉ: Thôn I, xã I, P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bà Lê Thị T1; địa chỉ: Thôn I, xã I, P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bà Phạm Thị S; địa chỉ: tổ dân phố A, thị trấn P, huyện P, Gia Lai. Có mặt.
- Ông Trần Quang B; địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Bà Ninh Thị H1; địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày: Năm 2002, gia đình ông được Ủy ban nhân dân huyện A (cũ) cấp cho 01 lô đất vườn thời hạn sử dụng là 50 năm, có diện tích là 675m², tại tờ bản đồ số 49, thửa số 52; có chiều rộng theo mặt đường Quốc lộ 25 là 17m (nhưng hiện tại chỉ còn 16,50m) còn phía sau đối diện với mặt đường Quốc lộ 25 là 18,5m thửa đất trên hiện tại còn mang tên bố ông (hộ ông bà) Trần Văn Q; nhưng hiện nay mẹ ông và các thành viên trong gia đình đã thừa kế cho ông (Trần Văn T), lô đất trên vợ chồng ông đã xây nhà ở ổn định. Vào năm 2019, ông Nguyễn Phi H có qua nói chuyện thỏa thuận với nhà ông về việc làm hàng rào, ông cũng có nói ông H cứ làm rào đi nhưng giữ nguyên phía nhà ông và để đất nhà ông đủ kích thước mặt đường là 17m. Về sau khi đo đạc lại thì ông phát hiện ông H xây hàng rào lấn sang đất nhà ông 50cm theo chiều rộng mặt đường Quốc lộ 25. Sự việc tranh chấp trên gia đình ông đã làm đơn lên xã hòa giải nhiều lần, có lần hòa giải vào ngày 11/5/2019 gia đình ông D, ông L và có bà Phạm Thị S (là mẹ ruột của các ông trên) đã đồng ý hòa giải ký biên bản thỏa thuận để gia đình ông lấy 240m² ruộng phía sau để khấu trừ 50cm theo chiều rộng của lô đất mặt đường Q, nhằm mục đích đoàn kết hàng xóm láng giềng, nhưng sau đó ông D, ông L không đồng ý nên hòa giải không thành; trị giá diện tích đất tranh chấp tính theo giá thị trường hiện nay theo như định giá là khoảng 75.000.000đồng. Đối với đất của ông D, ông L chỉ có giấy tờ mua bán viết tay còn đứng tên ông D và ông L, theo ông được biết thì ông B chỉ bán cho ông D, ông L là 30m theo Quốc lộ B nhưng gia đình ông D, ông L lại sửa chữa thành 32m. Vậy ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh D và anh L phải trả lại 50cm đất theo mặt đường Quốc lộ 25 và 0,84m chiều rộng phía sau đã lấn sang đất của nhà ông theo biên bản xem xét tại chỗ của Tòa án.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn D trình bày: Năm 1995, bố mẹ ông là ông Nguyễn Thế V và bà Phạm Thị S có mua lại lô đất của ông Trần Quang B với chiều ngang là 32m và chiều dài là 50m, vị trí đất thuộc thôn I, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai; có tứ cận: Đông giáp đất ông D1, Tây giáp đất ông H2, Nam giáp đất ông Ama P và Bắc giáp Quốc lộ B. Đến năm 1999 gia đình ông Q (bố ông T) mua đám đất sát nhà ông vào năm 1999 và có dựng hàng rào dây thép gai và trụ gỗ. Hiện tại hàng rào và trụ gỗ vẫn còn. Đến năm 2012, anh trai ông là Nguyễn Phi H lấy vợ nên mẹ ông (bà S) đã cho 12m trong giáp với đất gia đình ông T. Đến năm 2013, mẹ ông bán lại cho ông H 10m nữa, tổng diện tích của ông H là 22m chiều rộng và 50m chiều dài, phần còn lại 10m chiều rộng và 50m chiều dài là của mẹ ông bà S. Từ đó ở ổn định không phát sinh tranh chấp gì. Năm 2019, ông H có xây hàng rào ranh giới giữa nhà ông H và gia đình ông T, xây hàng xong rào ông T không ý kiến gì, đến khoảng nhiều tháng sau thì ông T kiện cáo lên xã, yêu cầu gia đình ông phải trả lại 50cm đất theo hướng Quốc lộ B và chạy dài theo lô đất, trong khi đất nhà ông diện tích đủ và đã xây hàng rào ổn định nhiều năm nay.
* Bị đơn ông Nguyễn Quốc L trình bày: Năm 1993, bố mẹ ông là ông Nguyễn Thế V và bà Phạm Thị S có mua một mảnh đất tại thôn I, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai có chiều rộng 32m, chiều dài 50m, tổng diện tích đất là 1600m². Tuy nhiên theo quy định của pháp luật tại thời điểm đó, một người không thể đứng tên hai miếng đất. Do đó, bố mẹ ông để hai anh em ông là Nguyễn Văn D và Nguyễn Quốc L đứng tên. Quá trình sử dụng đất ở không hề phát sinh tranh chấp gì giữa gia đình ông và gia đình ông Q. Đến năm 2012, bố mẹ đã cho lại anh trai ông là Nguyễn Phi H mảnh đất này, do anh em ông đều làm ăn ở nơi khác nên cũng không thường lui tới mảnh đất này. Đến năm 2019, anh Nguyễn Phi H có thỏa thuận thống nhất với gia đình ông T về việc xây dựng hàng rào. Anh H xây rào theo mốc giới hàng rào cũ do gia đình ông Q (bố của ông T) xây dựng từ năm 1999 đến nay, chứ không lấn vào đất của ông T. Việc ông T nói đất nhà ông T bề ngang là 17m nhưng thực tế trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh T không có thể hiện cụ thể các cạnh của đất mà chỉ có tổng diện tích. Sau khi xảy ra tranh chấp thì gia đình ông T và mẹ ông có lên Ủy ban xã để hòa giải nhưng ông không tham gia phiên hòa giải đó từ đầu nên không đồng ý với kết quả hòa giải của Ủy ban xã. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện trên của ông T.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phi H và bà Lê Thị T1 trình bày: Năm 1995, bố mẹ ông H là ông Nguyễn Thế V và bà Phạm Thị S có mua một mảnh đất tại thôn I, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai có chiều rộng 32m, chiều dài 50m, tổng diện tích đất là 1600m². Tuy nhiên theo quy định của pháp luật tại thời điểm đó, một người không thể đứng tên hai miếng đất. Do đó, bố mẹ ông H để hai em trai ông H là Nguyễn Văn D và Nguyễn Quốc L đứng tên. Đến năm 2012, ông H lập gia đình nên bố mẹ đã cho ông mảnh đất này và ông mua thêm của mẹ 10m nữa, tổng chiều rộng đất của vợ chồng ông theo Quốc lộ B là 22m, giáp với đất nhà ông T. Ông H đã xây nhà và ở ổn định trên mảnh đất này từ năm 2012 cho đến năm 2019 mà không có xảy ra tranh chấp gì. Đến tháng 11 năm 2019, ông H có ý định xây cổng và tường rào xung quanh nhà nhằm tránh trâu bò phá hại rau màu. Trước khi xây hàng rào thì vợ chồng ông có sang trao đổi với vợ chồng ông Trần Văn T và bà Ninh Thị H1, ông T với ông là bạn bè thân thiết, cùng sống lâu năm tại đó. Hai bên đã thỏa thuận với nhau là thống nhất việc xây rào, vị trí xây, thống nhất để vợ chồng ông xây 25m hàng rào phía trước, vợ chồng ông T xây 25m hàng rào phía sau dựa theo hàng rào cũ đã được gia đình ông T làm cột rào từ năm 1999. Trong quá trình gia đình ông xây hàng rào và cổng, ông T và gia đình không ai có ý kiến gì, cũng như không phát sinh tranh chấp gì khác với gia đình ông, bà. Đồng thời khi xây rào thì ông T thi thoảng cũng lui tới xem việc xây hàng rào nhưng không ý kiến gì. Thế nhưng khoảng 6 tháng sau khi xây rào xong, ông T nói gia đình ông xây rào lấn sang đất nhà ông T 50cm và khởi kiện ra Tòa án yêu cầu gia đình ông trả lại đất cho nhà ông T.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị S trình bày: Năm 1995, vợ chồng bà có mua lô đất tại thôn I, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai của ông B. Tuy nhiên theo quy định của pháp luật tại thời điểm đó, một người không thể đứng tên hai miếng đất. Do đó, vợ chồng bà để hai con là Nguyễn Văn D và Nguyễn Quốc L đứng tên dù lúc đó hai con còn nhỏ mới 12, 13 tuổi. Thời điểm bán đất cho bà thì ông B bẻ que đo ranh giới đất chiều sâu 50m, bề ngang 32m. Sau khi mua đất, gia đình bà có rào xung quanh lại ranh giới nhưng do thời gian đã lâu nên rào cũ bị mất. Mặt trước mảnh đất bà mua giáp Quốc lộ B, mặt sau giáp đất ruộng của gia đình, bên phải giáp đất ông P1, bên trái giáp đất ông Q (bố anh T) mua sau này, việc sang nhượng đất của bà với ông B được Ủy ban nhân dân xã I xác nhận. Năm 1999, ông Q mua lô đất giáp với nhà bà rồi ông Q làm hàng rào. Trong suốt quá trình hai gia đình sinh sống, không xảy ra tranh chấp đất gì giữa hai gia đình. Đến năm 2012, do con trai bà là H cưới vợ nên bà đã cho vợ chồng H mảnh đất đó nên về sau việc H với gia đình ông T thỏa thuận xây rào như thế nào thì bà không biết.
* Tại biên bản lấy lời khai và biên bản xác minh, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Trần Quang B trình bày: Năm 1995, ông có sang nhượng cho bố mẹ anh D anh L (chứ không sang nhượng cho anh D, anh L) 01 lô đất tại thôn I, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai như trong giấy sang nhượng, cụ thể theo mặt đường QL 25 là 30m, chiều sâu 50m đến giáp ranh đất của ông AmPam người địa phương và đối diện theo mặt đường QL 25 cũng là 30m. Giá chuyển nhượng thời điểm đó là 1.500.000đồng. Đất có tứ cận như sau: Hướng đông giáp đất ông D1, hướng Tây giáp đất ông H2, hướng Nam giáp đất ông A; hướng Bắc giáp mặt đường QL 25. Tại thời điểm sang nhượng, trong giấy sang nhượng ghi là 30m không có sửa chữa bất cứ một con số hay chữ viết gì, theo ông việc gia đình anh D anh L sửa thành 32m là không đúng. Mảnh đất đấy ông cũng đã sang nhượng xong từ lâu không còn liên quan gì đến ông nữa.
* Tại Bản án sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đã quyết định: Áp dụng Điều 26; Điều 35; Điều 39; khoản 01 Điều 147; 157;165 của Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng các Điều 175,176 Bộ luật dân sự và Điều 203 Luật đất đai năm 2013. Áp dụng điểm b, khoản 01 Điều 24; khoản 02 Điều 26; điểm b, khoản 02 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T. Anh Trần Văn T có trách nhiệm liên hệ với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại giấy tờ liên quan quyền sử dụng đất trên cho phù hợp với hiện trạng diện tích đất thực tế đang được sử dụng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc nguyên đơn anh Trần Văn T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.750.000đồng. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền 1.250.000đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm anh Trần Văn T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0007388 ngày 26/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Thiện. Anh Trần Văn T phải nộp tiếp số tiền án phí là 2.500.000đồng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Nguyên đơn anh Trần Văn T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định là 3.000.000đồng, nguyên đơn đã nộp đủ.
Ngoài ra còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
* Kháng cáo:
Ngày 19/11/2024, nguyên đơn ông Trần Văn T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
* Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện theo hướng buộc bị đơn ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Quốc L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Phi H, bà Lê Thị T1 trả lại cho ông Trần Văn T diện tích 24m² đất tại thửa số 52, tờ bản đồ số 49, địa chỉ: thôn I, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn đảm bảo đúng thủ tục, nội dung và trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn, thấy rằng:
[2.1]. Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn T cho rằng ông Nguyễn Quốc L và ông Nguyễn Văn D xây tường rào lấn đất của ông nên khởi kiện yêu cầu ông L và ông D trả lại 24m² đất như biên bản xem xét thẩm định của Tòa án. Tuy nhiên, ông Nguyễn Phi H và bà Lê Thị Thanh M là người sử dụng đất và đã làm nhà ở từ năm 2012, đồng thời cũng là người trực tiếp thỏa thuận với ông T để xây tường rào làm ranh giới giữa hai thửa đất. Bị đơn ông D và ông L không phải là người sử dụng đất liền kề với ông T, cũng không có hành vi xây tường rào lấn chiếm đất của ông T. Do vậy, không có cơ sở cho rằng ông D và ông L xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T trong vụ án này.
[2.2]. Diện tích đất ông T sử dụng có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của người khác từ năm 1999, có ranh giới phía Đông tiếp giáp với đất của bà S (bà S nhận chuyển nhượng của ông B từ năm 1995). Ngay sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình ông T đã làm cọc hàng rào bằng cây gỗ để phân định ranh giới giữa hai thửa đất (các đương sự đều xác định các cọc gỗ phân định ranh giới giữa hai thửa đất được ông Q là cha ông Tấn dựng vào năm 1999 và hiện tại vẫn còn). Sau khi dựng các cọc hàng rào để xác định ranh giới, năm 2002 gia đình ông T mới kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các bên đã sử dụng đất ổn định từ khi nhận chuyển nhượng và không có tranh chấp. Năm 2012 gia đình bà S thống nhất cho ông H và bà T1 một phần diện tích tiếp giáp với đất ông T để xây dựng nhà ở. Năm 2019 ông H, bà T1 và ông T cùng nhau thỏa thuận về việc xây tường rào theo mốc giới cũ là hàng cọc gỗ do gia đình ông Tấn D2 từ năm 1999. Chiều dài ranh giới giữa hai thửa đất là 50m, theo đó ông H, bà T1 xây tường rào dài 25m tính từ phía Quốc lộ B vào, còn lại phần phía sau sẽ do ông T xây. Theo biên bản thẩm định ngày 19/5/2022 của Tòa án cấp sơ thẩm xác định: ông H xây tường gạch ống dầy 10cm, dài 23,2m, cao trung bình 1,35m. Ông H, bà T1 xây đúng mốc giới như đã thỏa thuận là các cọc gỗ cũ, không lấn qua đất của ông T. Trong quá trình ông H xây tường rào, ông T đều qua xem nhưng không có ý kiến gì. Đến 06 tháng sau kể từ khi ông H, bà T1 xây tường rào xong thì ông T mới tranh chấp.
[2.3] Với những tài liệu, chứng cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ; ông T kháng cáo nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh có sự việc ông D và ông L lấn chiếm đất của ông nên không được chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, nên không được chấp nhận. Tuy nhiên tại phần quyết định của bản án, cấp sơ thẩm tuyên "Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T" và " Anh Trần Văn T có trách nhiệm liên hệ với C thẩm quyền để điều chỉnh lại giấy tờ liên quan quyền sử dụng đất trên cho phù hợp với hiện trạng diện tích đất thực tế đang được sử dụng" là chưa đầy đủ, rõ ràng, không đúng với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cần thiết. Ngoài ra, đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất; cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp quyền sử dụng đất, nhưng buộc nguyên đơn phải chịu án phí có giá ngạch là không đúng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Do vậy, cấp phúc thẩm xét thấy cần phải chấp nhận một phần kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên án và về án phí dân sự sơ thẩm cho đúng quy định của pháp luật.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa về phần án phí nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Văn T. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
Áp dụng các Điều 175, 176 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc buộc ông Nguyễn Văn D và ông Nguyễn Quốc L trả lại diện tích 24m² đất tại thửa số 52, tờ bản đồ số 49, địa chỉ: thôn I, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai.
- Về chi phí tố tụng: Ông Trần Văn T phải chịu 3.000.000₫ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ông T đã nộp đủ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền đã tạm nộp án phí trước đây là 1.250.000đ theo biên lai thu số 0007388 ngày 26/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Hoàn trả lại cho ông T 950.000đ (chín trăm năm mươi nghìn đồng) chênh lệch.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Trả lại cho ông Trần Văn T 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009065 ngày 20/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Chí Công |
Bản án số 51/2025/DS-PT ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 51/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án
