Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SẦM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HSST

Ngày: 27/9/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HOÁ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Tuấn- Giáo viên

Ông Nguyễn Viết Mai- Cán bộ hưu trí

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Huy– Thư ký tòa án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 11/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Đặng Hoàng M; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/5/2006, tại Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; HKTT và nơi ở hiện nay: TDP K, phường T,TP S, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Không xác định ; Con bà: Nguyễn Thị N; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2024 đến ngày 27/6/ 2024 tạm giam đến nay. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an T3, tỉnh Thanh Hóa. “Có mặt tại phiên tòa”.
  2. Phạm Văn S; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 7/12/2006 (đến ngày phạm tội chưa đủ 18 tuổi), tại Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn A, xã Q, Q, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Phạm Văn H ; Con bà: Đỗ Thị T; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con đầu; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/6/2024 đến ngày 27/6/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay. “Có mặt tại phiên tòa”.
  3. Nguyễn Đặng Hoàng A; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/5/2006, tại Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; HKTT và nơi ở hiện nay: TDP K, phường T,TP S, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Không xác định ; Con bà: Nguyễn Thị N; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: không. Bị áp dụng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 11/7/2024 đến nay. “Có mặt tại phiên tòa”.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Văn S: Bà Đỗ Thị T, SN: 1987 (Mẹ của bị cáo S); Nơi cư trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. “Có mặt tại phiên tòa”

- Người bào chữa cho bị cáo S: Bà Nguyễn Thị Ngọc T1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. “Có mặt tại phiên tòa”.

Người bị hại: Anh Lâm Hữu K, sinh năm: 2007. “Vắng mặt”

Người đại diện hợp pháp: Ông Lâm Thanh Đ (bố ruột của anh K). “Vắng mặt”

Cùng địa chỉ: Phố E, phường Q, TP T, tỉnh Thanh Hóa

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lê Văn C – SN: 1987; “Vắng mặt”

Địa chỉ: Số 1 Hồ X, P.B, TP S, tỉnh Thanh Hóa

(Quản lý nhà hàng C1)

Người làm chứng:

1.Anh Phạm Văn H1, sinh năm: 2008(em ruột bị cáo S). “Có mặt”

Người đại diện hợp pháp cho anh H1 :

Bà Đỗ Thị T, SN: 1987 (Mẹ của anh H1); “Có mặt”

Cùng địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện Q,tỉnh Thanh Hóa.

2. Chị Chu Thị Khánh H2, sinh năm: 2008. “Có mặt”

Người đại diện hợp pháp cho chị H2:

Anh Chu Hữu T2, sinh năm: 1981 (bố ruột của chị H2). “Vắng mặt”

Cùng địa chỉ: TDP Y, P.Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn cá nhân từ trước giữa Nguyễn Đặng Hoàng M, sinh ngày 10/5/2006 và Lâm Hữu K, sinh ngày 11/3/2007, trong việc bạn gái M là Chu Thị Khánh H2, sinh ngày 17/3/2008 cùng làm với Lâm Hữu K tại nhà hàng “Càng Buffet” ở số I đường H thuộc địa phận TDP B, phường B, thành phố S và

bị K trêu ghẹo nên H2 nói cho M biết, vì vậy M thường đến đón H2 sau giờ làm. Tối ngày 17/6/2024 tại khu vực phường T, thành phố S khi M đang đi chơi cùng bạn thì gặp K và K có lùa đánh nhưng Hoàng M bỏ chạy. Đến khoảng 14 giờ ngày 18/6/2024 Nguyễn Đặng Hoàng M rủ em trai là Nguyễn Đặng Hoàng A, sinh ngày 10/5/2006 và gọi điện rủ thêm Phạm Văn S, sinh ngày 07/12/2006 đến nhà hàng “Càng B” tìm Lâm Hữu K để đánh. Sau đó S bảo em trai là Phạm Văn H1, sinh ngày 06/6/2008 đi cùng. Đến nơi Nguyễn Đặng Hoàng M bảo H1 đứng ngoài trông xe còn Hoàng M, Hoàng A và S đi thẳng vào bên trong thấy K đang ở khu vực bếp thì Hoàng A dùng muỗng bằng kim loại màu trắng dài 55cm và khay để đồ bằng kim loại màu trắng (kích thước 35 x 25 x 10 cm) đánh Kết; Phạm Văn S lấy 01 con dao thái dài 33,5cm (loại cán gỗ dài 12,5cm, lưỡi dài 21cm, rộng 5,5cm) gần đó để chém và Hoàng M dùng tay, chân đánh Lâm Hữu K. Khi cả ba đang đánh xảy ra nhiều vết thương cho K thì mọi người hô hoán, can ngăn thì cả ba đối tượng bỏ chạy, còn Lâm Hữu K được đưa vào Bệnh viện đa khoa thành phố S cấp cứu và điều trị. Quá trình đánh nhau Hoàng M cũng bị thương nhẹ do Lâm Hữu K tự vệ.

Nhận được nguồn tin Cơ quan CSĐT Công an thành phố T3 đã phối hợp tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập dữ liệu hình ảnh Camera tại nơi xảy ra vụ việc, vật chứng và tài liệu có liên quan để làm căn cứ xử lý.

Biết không thể trốn tránh, từ 17 giờ đến 19 giờ cùng ngày, Nguyễn Đặng Hoàng M và Phạm Văn S lần lượt đến Công an thành phố T3 xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đồng thời Phạm Văn S giao nộp 01 con dao, loại dao thái dài 33,5cm (cán gỗ dài 12,5cm; lưỡi dài 21cm, rộng 5,5cm) là hung khí liên quan đến vụ án. Đến 14 giờ 30 phút ngày 03/7/2024 Nguyễn Đặng Hoàng A đã đến Công an thành phố T3 trình diện khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đồng phạm.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Lâm Hữu K, hồi 17 giờ 00 phút ngày 18/6/2024 tại Bệnh viện đa khoa thành phố S xác định:

  • + Vùng mang tai phải kéo dài đến phần đầu bên phải và vùng trán có 13 vết thương thâm bầm, sưng tấy, xây xước da không rõ hình. Vết lớn nhất, kích thước 8,4 x 1cm, vết nhỏ nhất, kích thước 0,5 x 0,5cm;
  • + Vị trí đầu lông mày trái có vết sưng tấy đỏ, kích thước 1 x 0,5cm;
  • + Vị trí mặt, giáp cánh mũi bên phải có vết sưng tấy đỏ, kích thước 0,5 x 0,5cm;
  • + Vị trí dưới mắt trái có vết rách da nối liền với vết sưng tấy đỏ, kéo dài từ góc trong mi dưới mắt trái đến má trái, kích thước 4 x 1,2cm;
  • + Vị trí mặt trong bắp tay phải có vết rách da, kích thước 1,3 x 1,5cm;
  • + Vị trí mặt ngoài khuỷu tay phải có 02 vết thương rách da, thịt, lộ khớp khuỷu, đứt gân cơ duỗi cẳng tay phải, bờ mép các vết sắc gọn. Vết thứ nhất, kích thước 5 x 1,5cm; vết thứ hai, kích thước 6 x 1,5cm. Tại thời điểm xem xét, vết thương đã được khâu, băng bó;
  • + Vị trí mông bên phải có 03 vết thương rách da, thịt, bờ mép sắc gọn. Vết thứ nhất, kích thước 7 x 1cm; vết thứ hai, kích thước 6 x 1cm; vết thứ ba, kích thước 5 x 1cm. Tại thời điểm xem xét, vết thương đã được khâu, băng bó;
  • + Vị trí mặt trước cẳng chân phải (dưới đầu gối) có 03 vết thương rách da, thịt, bờ mép sắc gọn. Vết thứ nhất, kích thước 5 x 1cm; vết thứ hai, kích thước 8 x 1cm; vết thứ ba, kích thước 2 x 1cm. Tại thời điểm xem xét, vết thương đã được khâu, băng bó;
  • + Vị trí mặt ngoài đùi bên phải có vết thương rách da, thịt, kích thước 3,5 x 1,2cm, bờ mép sắc gọn;
  • + Vị trí 1/3 dưới đùi bên trái có vết thương rách da, thịt, đứt gân kheo trong đùi trái, kích thước 5 x 3cm, bờ mép sắc gọn. Tại thời điểm xem xét, vết thương đã được khâu, băng bó.

Tại kết luận giám định số 588/KLTTCT-PYTH ngày 25/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận:

  • - Lâm Hữu K bị tổn thương cơ thể 22%;
  • - Vật gây thương tích:
  • + Các vết thương vùng mang tai phải kéo dài đến phần đầu bên phải và vùng trán, vết thương vùng dưới mắt trái, vết thương vùng mặt trong bắp tay phải: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh;
  • + Vết thương vùng đầu lông mày trái, vết thương vùng mặt giáp cánh mũi bên phải: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày;
  • + Vết thương vùng mặt ngoài khuỷu tay phải, vết thương vùng mông bên phải, vết thương vùng mặt trước cẳng chân phải (dưới đầu gối), vết thương mặt ngoài đùi bên phải, vị trí 1/3 dưới đùi bên trái: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc.

Tại kết luận giám định số 2749/KL-KTHS ngày 24/7/2024 của phòng K1 Công an tỉnh T. Kết luận: Mẫu máu thu giữ tại hiện trường và máu trên con dao gửi giám định đều là máu của Lâm Hữu K.

Kết luận giám định số 2829/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của phòng K1 Công an tỉnh T. Kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 tệp video của 01 đĩa DVD-R gửi giám định.

Vật chứng của vụ án: 01 con dao loại dao thái dài 33,5cm (cán gỗ dài 12,5cm; lưỡi dài 21cm, rộng 5,5cm) là con dao Phạm Văn S lấy tại nhà hàng “Càng Buffe” chém K và S giao nộp cho Cơ quan điều tra khi ra đầu thú; 01 áo chống nắng của Nguyễn Đặng Hoàng M; 01 đôi giày, 01 đôi dép thu tại hiện trường đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn.

Về bồi thường dân sự: Hiện tại, gia đình các bị cáo Nguyễn Đặng Hoàng M, Nguyễn Đặng Hoàng A, Phạm Văn S và người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 90.000.000₫ (Chín mươi triệu đồng), người bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm cho các bị cáo và không yêu cầu bồi thường thêm gì về mặt dân sự.

Đối với hành vi của Lâm Hữu K lùa đánh Nguyễn Đặng Hoàng M tối ngày 17/6/2024 mặc dù không gây hậu quả gì và Hoàng M cũng chưa trình báo cơ quan chức năng, nên chưa có căn cứ để xử lý hình sự. Tuy nhiêu hành vi này đã vi phạm điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/NĐ của Chính Phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực An ninh trật tự, nên Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an thành phố T3 để xử phạt vi phạm hành chính đối với Lâm Hữu K.

Trong khi đánh nhau Lâm Hữu K đã tự vệ có gây ra 03 vết thương cho Nguyễn Đặng Hoàng M là hành vi phòng vệ chính đáng và quá trình điều tra Hoàng M đã từ chối giám định thương tích và cũng không yêu cầu gì nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Phạm Văn H1 đi cùng với Phạm Văn S, nhưng H1 không biết việc Hoàng M, Hoàng A và S đi đánh nhau mà đứng ngoài trông xe, không liên quan đến tội phạm, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Nơi xảy ra vụ việc là khu vực bếp ăn của nhà hàng C2, thời gian xảy ra sự việc khoảng 3-5 phút, thời điểm này nhà hàng không có khách, chỉ có 1 số nhân viên của nhà hàng biết sự việc, không lùa đuổi đánh nhau trên đường do đó chưa đủ căn cứ để xử lý về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội và thống nhất về kết quả giám định như đã nêu trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS; Điều 17, điều 58 ; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51 BLHS (đối với các bị cáo); Điều 38 BLHS (đối với bị cáo M), Điều 65 BLHS (đối với bị cáo S, bị cáo Hoàng A ); Điều 91, Điều 98, Điều 101 BLHS (đối với bị cáo S) đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng M mức hình phạt từ 24 tháng đến 30 tháng tù, bị cáo Hoàng A mức hình phạt từ 24 tháng đến 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 đến 60 tháng; Bị cáo S mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 36 đến 48 tháng;

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47BLHS, Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 01 áo chống nắng của Nguyễn Đặng Hoàng M; 01 đôi giày, 01 đôi dép thu tại hiện trường là những vật liên quan đến tội phạm không còn giá trị sử dụng.

Đối 01 con dao loại dao thái dài 33,5cm (cán gỗ dài 12,5cm; lưỡi dài 21cm, rộng 5,5cm) là con dao Phạm Văn S lấy tại nhà hàng “Càng Buffe” chém Kết là thuộc sở hữu của anh Lê Văn C (là quản lý nhà hàng) còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho anh Lê Văn C.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều đã văng mặt, xét việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử của vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận:

Khoảng 14 giờ ngày 18/6/2024 tại nhà hàng “Càng Buffet” ở số I đường H thuộc TDP B, phường B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Do mâu thuẫn cá nhân từ trước Nguyễn Đặng Hoàng M cùng với Nguyễn Đặng Hoàng A và Phạm Văn S đã dùng hung khí là dao, muỗng, khay đựng thức ăn bằng kim loại và dùng tay chân đánh, chém gây thương tích cho Lâm Hữu K làm tổn thương cơ thể 22%.

Bị cáo M, bị cáo S và bị cáo Hoàng A đã dùng dao, muỗng, khay kim loại là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho anh Lâm Hữu K với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 22%. Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Đặn Hoàng M1, bị cáo Phạm Văn S, Nguyễn Đặng Hoàng A đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án:

Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân, bị cáo S đã dùng dao chém nhiều nhát vào người anh K; còn Hoàng A đã dùng M2, khay bằng kim loại đánh vào đầu, mặt và tay anh K, bị cáo M1 mặc dù không dùng hung khí chỉ dùng tay, chân đấm đá vào người anh K nhưng đã rủ rê, cổ vũ các bị cáo Hoàng A, S dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể 22%. Hành vi của các bị cáo không những nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét vị trí, vai trò đồng phạm của các bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn bởi các bị cáo đều cùng thực hiện hành vi phạm tội, không có sự thống nhất, bàn bạc câu kết chặt chẽ trước. Tuy nhiên:

Bị cáo Hoàng M1 là khởi xướng, rủ rê Phạm Văn S (người dưới 18 tuổi) và Hoàng A đi đánh kết và cũng trực tiếp dùng tay, chân gây nên thương tích cho bị hại nên có vai trò thứ nhất trong vụ án. Bị cáo Phạm Văn S mặc dù không phải là người khởi xướng nhưng lại là người thực hành tích cực nhất, trực tiếp chém bị hại nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Đối với bị cáo Hoàng A không phải là người thực hành tích cực nhất, nhưng cũng đã dùng muỗng, khay bằng kim loại đánh bị hại, nên có vai trò thứ ba sau bị cáo Hoàng M1 và S.

[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với Bị cáo Hoàng M1: Bị cáo phải chịu 1 tình tiết tăng nặng là “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS. Và bị cáo Hoàng M1 cũng là người khởi xướng, rủ các bị cáo khác đi đánh nhau gây ra thương tích cho bị cáo K. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã ra đầu thú và đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình khó khăn bố không có, chỉ có một mình mẹ nuôi hai anh em, mặt khác mặc dù là người rủ rê nhưng khi thực hành bị cáo chỉ sử dụng tay chân chứ không trực tiếp sử dụng các hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại và khi phạm tội bị cáo vừa qua tuổi 18 nên suy nghĩ còn chưa chín chắn. Vì vậy, Quyết định hình phạt cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với bị cáo Hoàng A: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin miễn hình phạt cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình khó khăn bố không có, chỉ có một mình mẹ nuôi hai anh em, mặt khác bị cáo Hoàng A là em ruột của bị cáo Hoàng M1, phạm tội do bị anh trai rủ rê, khi phạm tội cũng vừa qua tuổi 18 nên suy nghĩ còn bồng bột, chưa được chín chắn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Xét thấy, Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như trên, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, trong vụ án này Hoàng M1 và Hoàng A là hai anh em ruội nên khi lượng hình không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện để cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và để thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Đối với bị cáo S: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đã đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS. Hơn nữa khi phạm tội bị cáo là trẻ vị thành niên chưa đủ 18 tuổi nên suy nghĩ còn chưa chín chắn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, nên khi lượng hình Hội đồng xét xử cần áp dụng các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại Điều 91BLHS và mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 91 BLHS để xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo S. Xét thấy, Bị cáo S có nhiều tình tiết giảm nhẹ như trên, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng lại là người chưa thành niên phạm tội nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của BLHS cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

[6] Về phần bồi thường dân sự:

Các bị cáo và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận xong về phần dân sự. Vì vậy, công nhận sự tự nguyện của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm gì về mặt dân sự.

[7] Về vật chứng: Đối với 01 con dao loại dao thái dài 33,5cm (cán gỗ dài 12,5cm; lưỡi dài 21cm, rộng 5,5cm) là con dao Phạm Văn S lấy tại nhà hàng “Càng Buffe” chém Kết là tài sản thuộc sở hữu của anh Lê Văn C (là quản lý nhà hàng và không có lỗi trong việc bị cáo sử dụng dao để chém anh K) nên căn cứ vào Khoản 1, khoản 3 Điều 106BLTTHS trả lại con dao cho anh Lê Văn C.

Đối với 01 áo chống nắng của Nguyễn Đặng Hoàng M; 01 đôi giày, 01 đôi dép thu tại hiện trường là những vật liên quan đến tội phạm nhưng không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào Điều 46, Điều 47 BLHS; khoản 1, 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS ;điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 BLHS (đối với cả ba bị cáo); điểm o khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS (đối với bị cáo M); Điều 65 BLHS (đối với bị cáo S, Hoàng A); Điều 91, điều 98, khoản 1 Điều 101 BLHS (đối với bị cáo S); Điều 46, điều 47 BLHS; Khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 BLTTHS ; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án, phí lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đặng Hoàng M, Nguyễn Đặng Hoàng A, Phạm Văn S1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Đặng Hoàng M 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 18/6/2024

Bị cáo Nguyễn Đặng Hoàng A 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Đặng Hoàng A cho Ủy ban nhân dân Phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Bị cáo Phạm Văn S 21 (hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo S cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo đang cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởn án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về phần dân sự: Công nhận sự tự nguyện của bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm gì về dân sự.

Về Vật chứng:

Trả lại 01 con dao loại dao thái cho anh Lê Văn C (quản lý nhà hàng “Càng Buffe”).

Tịch thu, tiêu hủy 01 áo chống nắng dài màu đen, 01 đôi giày màu đen, 01 đôi dép màu đen

Các Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng số 55/BBVC-CCTHA ngày 11/9/2024.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm .

Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bào chữa và người đại diện hợp pháp của bị cáo S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Sầm Sơn;
  • - Công an TP. Sầm Sơn;
  • - Thi hành án HS, DS TP Sầm Sơn;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có QLNVQL;
  • - UBND xã phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HOÁ về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 51/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1,2 Điều 51 xử phạt: Hoàng M 25 tháng tù, Hoàng Anh 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng; Phạm Văn S 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 tháng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger