|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày: 05/12/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Phước
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Hiển
- Bà Mai Thị Tuyết Dung
Thư ký phiên toà: Bà Trần Vũ Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mới - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ tên: Phạm Ngọc T, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 07/4/1987 tại tỉnh Bắc Giang; địa chỉ đăng ký thường trú: 353 Ter N, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: A L, Phường D, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Đoàn Thị L; có vợ (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 04/7/2024, đến ngày 10/7/2024 thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và đến ngày 11/10/2024 thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Họ tên: Chạc Thanh P, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 05/8/2000 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; địa chỉ đăng ký thường trú: Thôn H, xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: B N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chạc A X và bà Chắng Thanh T1; có chồng (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/8/2024 đến nay; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Bị hại:
Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: Ấp Hòa Hiệp, xã Long Hòa, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Thanh T2 – Chức vụ: Trưởng công an huyện
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Hoàng Tuấn A – Tổ trưởng tổ tuần tra kiểm soát, điều hòa giao thông, Công an huyện C (có đơn xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Trương Đức T3, sinh năm 1958
Địa chỉ thường trú: B Hồ V, phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh
Nơi cư trú: B B, phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 02/7/2024, Phạm Ngọc T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại SH 125, màu xám đen, biển số: 72F1 – 943.56 của Chạc Thanh P, để chở P đi từ quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xuống huyện C với mục đích đi chơi và tìm nguồn hải sản rẻ để thu mua. Đến khoảng 06 giờ 40 phút ngày cùng ngày, khi T đang lưu thông trên đường R đến gần ngã ba L thuộc ấp A, xã A, huyện C, thì bị tổ tuần tra của Đội Cảnh sát giao thông - trật tự Công an huyện C ra tín hiệu dừng phương tiện để kiểm tra vì T không đội mũ bảo hiểm. Quá trình kiểm tra xác định T đã vi phạm các quy định của luật giao thông đường bộ gồm: Không đội nón bảo hiểm, không có giấy phép lái xe, không có giấy đăng ký xe nên Tổ công tác lập biên bản vi phạm hành chính, biên bản tạm giữ phương tiện vi phạm và biên bản niêm phong phương tiện đối với chiếc xe máy trên. Sau khi lập các biên bản, Tổ công tác đã thông qua cho T nghe và có sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1963, hộ khẩu thường trú: tổ A, ấp A, xã T, huyện C, rồi yêu cầu T ký tên vào các biên bản nhưng T không ký tên mà tiếp tục xin Tổ công tác bỏ qua các lỗi vi phạm. Sau đó, Tổ công tác đưa xe mô tô, biển số: 72F1 - 943.56 về trụ sở Tổ tuần tra kiểm soát và điều hòa giao thông khu vực D, Công an huyện C thuộc ấp A, xã A, huyện C để tạm giữ và tiếp tục công tác tuần tra theo kế hoạch. Lúc này, P hỏi T “bị giữ xe bao nhiêu lâu, mai mốt lấy xe ở đâu”, rồi T trả lời “để T đến nơi giữ xe hỏi”. Sau đó, T bảo P ngồi đợi còn T cầm theo chìa khóa xe và đi xe ôm đến trụ sở Tổ tuần tra kiểm soát và điều hòa giao thông khu vực D. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, T đến nơi thì thấy cửa cổng của trụ sở đang mở nên đi bộ vào bên trong và nhìn thấy chiếc xe mô tô, biển số: 72F1 - 943.56 đang đậu trước sân, rồi T tiếp tục đi vào bên trong gần đến dãy nhà làm việc nhưng không nhìn thấy ai nên T đã nảy sinh ý định lấy trộm xe máy, biển số: 72F1 - 943.56. T quay ra chỗ đậu xe, quay đầu xe hướng ra cổng và ngồi lên xe bấm chìa khóa thông minh để khởi động mô tô và điều khiển xe về hướng thị trấn C, huyện C. Sau khi đi được một đoạn thì T dừng xe lại, dùng tay xé giấy niêm phong dán trên yên xe và điện thoại cho P, kêu P đi xe buýt xuống ngã ba Công an huyện C để T đón. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô, biển số: 72F1 - 943.56 đến đón P, rồi chở P đi chơi và khảo sát giá hải sản tại thị trấn C, huyện C. Khi ngồi trên xe, P có hỏi T “sao lấy được xe vậy”, T trả lời: “Khi vào trạm giao thông thấy xe đậu ở sân, không có người trông giữ nên lấy xe đi luôn” và P không nói gì mà đồng ý tiếp tục đi với T. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T và P đi qua Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chơi đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì quay về Thành phố Hồ Chí Minh, trên đường về P kêu T đem xe mô tô, biển số: 72F1 - 943.56 đi cầm để lấy tiền trả tiền thuê mặt bằng của quán T5 tại số E Hồ N, Phường B, quận T do P và T thuê để kinh doanh dịch vụ ăn uống và T đồng ý. Sau đó, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05S, màu xanh điện cho anh Trương Đức T3 là chủ tiệm cầm đồ L thuộc Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để kêu anh T3 chờ T về để cầm xe. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả hai về đến quán T5, P đưa cho T các bản photo mang tên Chạc Thanh P (gồm: giấy đăng ký xe mô tô, giấy phép lái xe mô tô và căn cước công dân) và kêu T đem xe mô tô, biển số: 72F1 - 943.56 đi cầm với số tiền 9.500.000 đồng để trả tiền thuê mặt bằng. Sau đó, T đem xe mô tô trên đến tiệm cầm đồ Long Bảo T4, tự ý cầm với số tiền 25.000.000 đồng, nhưng T chỉ chuyển cho P số tiền 9.500.000 đồng. Số tiền còn lại T giữ lại để dùng vào việc tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 12 giờ ngày 03/7/2024, P và T bị Công an huyện C mời về trụ sở để làm rõ vụ việc.
Tại Kết luận định giá số 10/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chiếc xe mô tô biển số 72F1-943.56, nhãn hiệu Honda, loại SH125I, màu xám đen, đăng ký lần đầu ngày 29/11/2022, có trị giá 67.810.000 đ (sáu mươi bảy triệu tám trăm mười ngàn đồng).
Cơ quan điều tra đã thu hồi, trả lại chiếc xe mô tô biển số 72F1-943.56, nhãn hiệu Honda, loại SH125I, màu xám đen cho Công an huyện C. Bị cáo Phạm Ngọc T đã nộp lại số tiền 25.000.000 đồng trả lại cho ông Trương Đức T3.
Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSHCG ngày 29 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 và truy tố bị cáo Chạc Thanh P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc T đã trình bày lại toàn bộ nội dung vụ án và thừa nhận thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 72F1-943.56, nhãn hiệu Honda, loại SH125I, màu xám đen của Công an huyện C vào ngày 02/7/2024 tại Trụ sở Tổ tuần tra kiểm soát và điều hòa giao thông khu vực D, Công an huyện C thuộc ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; bị cáo Chạc Thanh P thừa nhận hành vi biết rõ chiếc xe mô tô biển số 72F1-943.56, nhãn hiệu Honda, loại SH125I, màu xám đen, do Phạm Ngọc T trộm cắp của Công an huyện C nhưng bị cáo vẫn cùng với T bán chiếc xe trên để lấy tiền tiêu xài như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với các bị cáo. Đồng thời, các bị cáo đã nhìn nhận trách nhiệm của mình và tỏ thái độ ăn năn hối hận, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến đánh giá nội dung vụ án, xác định hành vi phạm tội và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 và bị cáo Chạc Thanh P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) như nội dung bản cáo trạng. Đồng thời, Đại diện Viện kiểm sát cũng đã đánh giá tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 04 đến 05 năm; áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Chạc Thanh P mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 đến 02 năm. Đồng thời, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 quần soọc vải Kaki, màu ghi, đã qua sử dụng; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05S, màu xanh, đã qua sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên đã tiến hành thu thập chứng cứ, tài liệu đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã giao nộp chứng cứ, tài liệu đúng trình tự, thủ tục quy định. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác thể hiện nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp; các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với nhau, phù hợp với lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tang vật khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định, bị cáo Phạm Ngọc T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 72F1-943.56, nhãn hiệu Honda, loại SH125I, màu xám đen, có trị giá 67.810.000₫ (sáu mươi bảy triệu tám trăm mười ngàn đồng) của Công an huyện C vào ngày 02/7/2024 tại Trụ sở Tổ tuần tra kiểm soát và điều hòa giao thông khu vực D, Công an huyện C thuộc ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; bị cáo Chạc Thanh P biết rõ chiếc xe mô tô biển số 72F1-943.56, nhãn hiệu Honda, loại SH125I, màu xám đen, do Phạm Ngọc T trộm cắp của Công an huyện C nhưng bị cáo vẫn cùng với bị cáo T bán chiếc xe trên để lấy tiền tiêu xài và được hưởng lợi 9.500.000đ (chín triệu năm trăm ngàn đồng). Do đó, hành vi của bị cáo Phạm Ngọc T thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 và hành vi của bị cáo Chạc Thanh P thực hiện đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác và xâm phạm trật tự công cộng nên cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn để nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Tuy nhiên, xét các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo; bị cáo T phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đã nộp tiền thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả; bị cáo P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần xem xét áp dụng các quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.
[6] Xét thấy, các bị cáo Phạm Ngọc T, Chạc Thanh P đều có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này thì chưa có vi phạm pháp luật nào khác, đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú; đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; các bị cáo đều có việc làm ổn định; phạm tội mang tính nhất thời nên không cần thiết phải buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù, cách ly khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, giao về cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo đối với các bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là Công an huyện C đã nhận lại xe mô tô biển số 72F1 - 943.56, nhãn hiệu Honda, loại SH 125, màu xám đen và nay không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì khác nên Tòa án không xét giải quyết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trương Đức T3 đã nhận lại số tiền 25.000.000 đồng và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì khác nên Tòa án không xét giải quyết.
[8] Về tang vật chứng của vụ án:
- - 01 (một) áo thun ngắn tay, màu xanh, đã qua sử dụng và 01 (một) quần soọc vải Kaki, màu ghi, đã qua sử dụng là quần áo của bị cáo T, bị cáo T đề nghị không nhận lại nên tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05S màu xanh, đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo T đã sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
- - 01 (một) xe máy, nhãn hiệu Honda, loại SH 125, màu xám đen, biển số: 72F1-943.56, là tài sản do Công an huyện C đang quản lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi và trả lại cho Công an huyện C là có căn cứ, đúng pháp luật.
- - 03 (ba) bản photo mang tên Chạc Thanh P (gồm: giấy đăng ký xe mô tô, giấy phép lái xe mô tô và căn cước công dân) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Pro max, màu vàng đồng, là giấy tờ tùy thân và là tài sản của bị cáo Chạc Thanh P, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho bị cáo Chạc Thanh P là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Xử phạt: Phạm Ngọc T 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án;
Giao bị cáo Phạm Ngọc T cho Ủy ban nhân dân Phường D, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố bị cáo Chạc Thanh P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
- Xử phạt: Chạc Thanh P 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án;
Giao bị cáo Chạc Thanh P cho Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 quần soọc vải Kaki, màu ghi, đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05S, màu xanh, đã qua sử dụng.
(Tang vật thể hiện tại Biên bản giao nhận tang vật ngày 04 tháng 11 năm 2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo Phạm Ngọc T, Chạc Thanh P phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Minh Phước |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - TP. HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp và tiêu thụ tài sản
