Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày: 18-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Thúy Hằng.

2. Ông Trần Minh Chính.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Ông Hà Đức Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Văn H (tên gọi khác: không); sinh năm: 1979 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: số nhà B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Văn H1 và bà: Hồ Thị Q; vợ: Phan Thị H2 và 04 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 13/4/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng 21 ngày tù, về tội “Đánh bạc” (bản án số 112/2016/HSST), đã chấp hành xong hình phạt; bị tạm giữ, tạm giam: từ ngày 26/01/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1987. Nơi cư trú: xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

2. Ông Ngô Công Đ, sinh năm 1980. Nơi cư trú: xóm T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

3. Bà Hồ Thị L, sinh năm 1967. Nơi cư trú: khối I, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h ngày 22/01/2024, Trịnh Văn H cùng với Phạm Văn T, Ngô Công Đ, Nguyễn Trung T1, Bùi Duy H3 và Trần Văn T2 đến phòng số 1 quán K2 (khối I, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An) hát karaoke cùng với nhân viên phục vụ gồm Vi Thị M, Lương Thị T3, Lo Thị L1, Kha Thị K, Vi Thị N. Hát được một lúc, Trần Văn T2 ra về, Phạm Văn T gọi Phan Văn K1 đến hát cùng.

Trong quá trình hát, do có nhu cầu sử dụng ma túy và muốn những người hát cùng sử dụng ma túy nên H nói với Đ “đi kiếm cái đĩa”, Đ đi ra ngoài lấy vào 01 (một) chiếc đĩa nhựa nhưng do đĩa nhựa không dùng để “xào ke” được nên H đi ra khu vực gần nhà vệ sinh của quán karaoke lấy 01 (một) chiếc đĩa sứ màu trắng. H cầm đĩa đi vào phòng, lấy trong túi quần trước bên phải 01 (một) gói nilon bên trong có 01 (một) viên ma túy kẹo và 01 (một) gói nilon bên trong chứa ma túy ketamine. H dùng giấy đốt lửa lên, hơ đĩa và đổ ma túy ketamine vào lòng đĩa, sử dụng 01 (một) thẻ ATM ngân hàng V để “xào”. Sau đó, H bẻ viên ma túy kẹo thành 04 (bốn) mẩu nhỏ để lên đĩa cạnh số ma túy ketamine rồi dùng thẻ ATM xúc một ít ma túy ketamine bỏ lên mu bàn tay trái, đưa lên mũi hít vào cơ thể. Một lúc sau, H lấy 02 (hai) mẩu ma túy kẹo cho vào miệng, rồi lấy cốc bia uống để đưa ma túy kẹo vào cơ thể. H đặt đĩa sứ có số ma túy còn lại trên mặt bàn kính để mình và mọi người trong phòng hát ai sử dụng thì sử dụng. Phạm Văn T lấy 01 (một) mẩu ma túy kẹo trên đĩa sử dụng. Ngô Công Đ uống bia trong cốc của mình và mang chiếc đĩa sứ có ma túy mời các nhân viên nữ sử dụng nhưng không có ai sử dụng nên Đ để chiếc đĩa sứ trên bàn.

Đến khoảng 16h cùng ngày, Công an thị trấn C tiến hành kiểm tra, Trịnh Văn H dùng tay gạt chiếc đĩa sứ trên bàn xuống nền nhà làm chiếc đĩa bị vỡ thành 03 (ba) mảnh. Công an thị trấn thu giữ 02 (hai) gói nilon trong suốt, bên trong mỗi gói đều bám dính một ít các hạt tinh thể màu trắng, 03 (ba) mảnh sứ, 01 (một) thẻ ATM màu xám. Tiến hành khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra Công an huyện Q thu giữ các chất màu trắng dính ướt trên mặt bàn kính trong phòng hát số 1.

Tiến hành xét nghiệm, kết quả Trịnh Văn H dương tính với các nhóm ma túy Methamphetamine, MDMA, Ketamine và A, Ngô Công Đ và Phạm Văn T đều dương tính với các nhóm ma túy Methamphetamine, MDMA và Amphetamine.

Kết luận giám định số 212/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 26/01/2024, phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: trong túi nilon trong suốt kích thước (1,5x1,5)cm và trên thẻ ATM mang tên “TRINH VAN HA” gửi tới giám định đều có bám dính chất ma túy, loại Ketamine; trên 03 (ba) mảnh vỡ của 01 (một) chiếc đĩa sứ, trên 05 (năm) chiếc tăm bông và trong túi nilon trong suốt kích thước (4x4)cm gửi tới giám định đều có bám dính chất ma túy, loại MDMA và Ketamine.

Kết luận giám định số 1137/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của V1 - Bộ C kết luận: đều tìm thấy chất ma túy MDMA trong mẫu nước tiểu ký hiệu M1 (Trịnh Văn H), M2 (Ngô Công Đ), M3 (Phạm Văn T).

Bản cáo trạng số 52/CT-VKS-QL ngày 08/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Trịnh Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Văn H 24-27 tháng tù. Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi niêm phong bên trong có 01 (một) túi nilon kích thước (1,5x1,5)cm, 01 (một) túi nilon kích thước (4x4)cm, 01 (một) thẻ ATM mang tên “TRINH VAN HA” và 03 (ba) mảnh vỡ của 01 (một) chiếc đĩa sứ. Trả lại cho bà Hồ Thị L 01 (một) túi niêm phong bên trong có 01 (một) thiết bị lưu trữ dữ liệu camera an ninh nhãn hiệu HIKVISION Digital Video Recorder.

Án phí: buộc bị cáo Trịnh Văn H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: rất hối hận, xin mức án nhẹ nhất để cải tạo tốt sớm được trở về làm người có ích, phụng dưỡng cha mẹ già và nuôi dạy con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Văn H thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với Biên bản sự việc, kết luận giám định, lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận vào lúc 14h ngày 22/01/2024 tại phòng số 1 quán K2 (khối I, thị trấn C, huyện Q), để sử dụng trái phép chất ma túy, H cung cấp 01 (một) viên ma túy kẹo, 01 (một) gói ma túy ketamine bỏ trên đĩa đặt trên mặt bàn kính cho mọi người trong phòng hát ai sử dụng thì sử dụng. H sử dụng một ít ma túy ke và 01 (một) mẩu ma túy kẹo. Phạm Văn T sử dụng ma túy kẹo. Kết quả xét nghiệm thể hiện Trịnh Văn H dương tính với các nhóm ma túy Methamphetamine, MDMA, Ketamine và A, Ngô Công Đ và Phạm Văn T đều dương tính với các nhóm ma túy Methamphetamine, MDMA và Amphetamine. Kết quả điều tra chứng minh được ma túy Phạm Văn T sử dụng là do H cung cấp. Không chứng minh được Đ sử dụng ma túy vào thời điểm nào, không xác định được trong cốc bia Đ uống có chứa ma túy hay không, không thu giữ được cốc bia có chứa ma túy, do đó, không có cơ sở để kết luận ma túy mà Đ sử dụng có nguồn gốc của Trịnh Văn H. Nên xác định bị cáo chỉ tổ chức sử dụng ma túy cho một người. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền, thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự tại bản cáo trạng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú; có nhiều đóng góp ủng hộ địa phương; bố đẻ (ông Trịnh Văn H1) được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, Huân chương chiến công hạng ba, Huy chương kháng chiến hạng nhì. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, cũng như nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung. Xử phạt bị cáo với mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[4] Hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, bị xử phạt tù, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Biện pháp tư pháp: 01 (một) túi niêm phong bên trong có 01 (một) túi nilon kích thước (1,5x1,5)cm, 01 (một) túi nilon kích thước (4x4)cm, 01 (một) thẻ ATM mang tên “TRINH VAN HA” và 03 (ba) mảnh vỡ của 01 (một) chiếc đĩa sứ, là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy. 01 (một) túi niêm phong bên trong có 01 (một) thiết bị lưu trữ dữ liệu camera an ninh nhãn hiệu HIKVISION Digital Video Recorder, là tài sản của bà Hồ Thị L, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bà L.

[6] Những vấn đề khác: Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện Q để xử lý hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn T, và chuyển hồ sơ đến UBND huyện Q để xử lý hành vi “Để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực do mình quản lý” và “Không thực hiện văn bản yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy của cơ quan có thẩm quyền” của bà Hồ Thị L, là đúng quy định pháp luật.

[7] Về án phí hình sự: bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Văn H 24 (hai mươi tư) tháng tù, về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 26/01/2024).

2. Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi niêm phong bên trong có 01 (một) túi nilon kích thước (1,5x1,5)cm, 01 (một) túi nilon kích thước (4x4)cm, 01 (một) thẻ ATM mang tên “TRINH VAN HA” và 03 (ba) mảnh vỡ của 01 (một) chiếc đĩa sứ. Trả lại 01 (một) túi niêm phong bên trong có 01 (một) thiết bị lưu trữ dữ liệu camera an ninh nhãn hiệu HIKVISION Digital Video Recorder cho bà Hồ Thị L. Tình trạng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.

3. Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Trịnh Văn H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Trại giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳnh Lưu;
  • - CQCSĐT - CA huyện Quỳnh Lưu;
  • - CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu;
  • - THA hình sự;
  • - Sở Tư pháp;
  • - UBND phường Bình Chuẩn (để biết);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ + Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger