|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HSST Ngày: 14-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Hội thẩm nhân dân. Ông Nguyễn Công Danh.
Ông Nguyễn Thanh An.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Thị Thu Uyên – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST - HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Hứa Thị Kim C, sinh ngày: 01/01/1989.
Nơi thường trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nơi ở hiện tại: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: công nhân; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị D; Bản thân có chồng tên Trần Ngọc M, có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án – tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Phan Ngọc T1, sinh năm: 2002 (đã chết).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
Ông Phan Minh V, sinh năm: 1977 – Là cha bị hại (vắng mặt).
Bà Phan Thị N, sinh năm: 1979 – Là mẹ bị hại (có mặt).
Cùng cư trú: ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Ông V ủy quyền cho bà N, theo giấy ủy quyền ngày 29/12/2023 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Long An chứng thực.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Đỗ Thị B sinh năm: 1963 (có mặt).
Cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An. - Trần Minh K, sinh ngày 09/11/2013 (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Ngọc M, sinh năm: 1985 – Là cha (vắng mặt).
Cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 35 phút ngày 21/12/2023, Hứa Thị Kim C không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định điều khiển xe mô tô biển số: 62M1-376.14, chở phía sau 01 người con ruột tên Trần Minh K, lưu thông trên Đường T theo hướng thị trấn C về ngã tư X. Khi đến đoạn đường thuộc ấp P, xã P, huyện C, C cho xe di chuyển từ lề phải sang lề trái nhưng không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên va chạm với xe mô tô biển số: 71C2-431.49 do Phan Ngọc T1 điều khiển theo chiều ngược lại, gây ra tai nạn. Hậu quả, anh T1, C và cháu K bị thương, được đưa đi cấp cứu. Ngày 22/12/2023 anh T1 tử vong tại Bệnh viện C2.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 03/KLGĐTT-TTPY, ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y, kết luận: Nạn nhân Phan Ngọc T1, sinh năm: 2002, tử vong do vỡ gan/suy tuần hoàn cấp.
Sau khi sự việc xảy ra, các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông lập lúc 21 giờ 50 phút ngày 21/12/2023 thể hiện:
Hiện trường xảy ra tai nạn là tại Km 07 + 800m Đường tỉnh 835 thuộc ấp P, xã P, huyện C. Mặt đường trải nhựa rộng 11m, ở giữa đường có vạch sơn màu vàng đứt quảng chia thành hai chiều lưu thông.
Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên các phương tiện và dấu vết:
Ký hiệu số (1) là vết ma sát màu đen dài 11,2m; Ký hiệu số (2) là vết cày đứt quãng dài 3,2m; Ký hiệu số (3) là xe mô tô biển số 71C2-431.49 ngã ngang bên trái; Ký hiệu số (4) là vết cày đứt quãng dài 10,5m; Ký hiệu số (5) là xe mô tô biển số 62M1-37614 ngã ngang bên phải (đầu xe hướng Ngã tư xoài đôi, đuôi xe hướng Ngã năm mũi tàu).
Chọn lề trái Đường T hướng Ngã tư xoài đôi đi hướng Ngã năm mũi tàu làm lề chuẩn và trụ điện số 01 bên lề phải hướng Ngã tư xoài đôi đi hướng Ngã năm mũi tàu là điểm mốc cố định để tiến hành đo đạc hiện trường:
Đầu (1) đo vuông góc vào lề chuẩn 7,5m và đo chếch 18,5m đến điểm mốc cố định bên lề phải. Cuối (1) đo vuông góc vào lề chuẩn 7,9m và đo 3,1m là đến vị trí số (2). Từ đầu (2) đo vuông góc vào lề chuẩn 8,5m và đo 3,2m đến đầu gác chân trước bên trái xe (3). Trục trước xe (3) đo vuông góc vào lề chuẩn là 10,3m, trục sau xe (3) đo vuông góc vào lề chuẩn là 9,4m và đo chếch 1,6m đến đầu vết cày số (4). Đầu (4) đo vuông góc vào lề chuẩn 8,7m và đo chếch 10,5m đến đầu gác chân trước bên phải xe (5). Trục trước xe (5) đo vuông góc vào lề chuẩn là 11,6m, trục sau xe (3) đo vuông góc vào lề chuẩn là 11,9m. Xác định khu vực va chạm là khu vực cuối vết cày màu đen số (1) đo vuông góc vào lề chuẩn là 7,9m.
Tại Biên bản khám nghiệm xe mô tô biển số 62M1-376.14, lập lúc 22 giờ 45 phút, ngày 21/12/2023, thể hiện: Ốp nhựa đầu xe bị trầy xước (03 x 06) cm; đèn chiếu sáng phía trước bị vỡ hoàn toàn; chắn bùn trước bị vỡ hoàn toàn; vành bánh xe trước bị cong vênh, biến dạng; gương chiếu hậu bên trái bị vỡ; yếm xe bên phải bị vỡ hoàn toàn; giảm sốc trước bên phải xe bị biến dạng vào trong (01 x 02) cm; bộ phận dầu phanh bánh trước bên phải bị vỡ; đầu gác chân trước bên phải xe bị mài mòn; khung nâng phía sau xe bên phải bị mài mòn (02 x 01) cm.
Tại Biên bản khám nghiệm xe mô tô biển số 71C2-431.49, lập lúc 23 giờ 10 phút, ngày 21/12/2023, thể hiện: Ốp mặt nạ trước xe bị vỡ hoàn toàn; chắn bùn trước xe bị vỡ hoàn toàn; giảm sốc trước bên phải xe bị vỡ (01 x 03) cm; đũa bánh xe trước bị gãy; vành bánh xe trước bên trái bị biến dạng (03 x 07) cm; nắp bảo vệ bộ ly hợp bên trái xe bị vỡ (03 x 03) cm; gác chân sau bên trái xe bị gãy; đầu thanh chống đỗ bên trái xe bị mài mòn; khung nâng sau xe bên trái bị mài mòn (02 x 10) cm; yếm xe bên phải bị vỡ hoàn toàn; vành bánh trước bên phải xe bị biến dạng (03 x 11) cm.
Tại Bản cáo trạng số 51/CT-VKSCG, ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Hứa Thị Kim C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Về tang vật: Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 71C2-431.49 cho Phan Thị N và trả lại xe mô tô biển số 62M1-376.14 cho Hứa Thị Kim C.
Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585; 586 và Điều 591 Bộ luật dân sự.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo và gia đình (bà Đỗ Thị B) đã bồi thường cho gia đình bị hại chi phí mai táng và tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 30.000.000 đồng. Hiện đại diện bị hại yêu cầu bồi thường tiếp số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo đồng ý, nên đề nghị ghi nhận
Bị cáo không tranh luận. Đại diện bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt không tranh luận.
Bị cáo nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Khoảng 21 giờ 35 phút ngày 21/12/2023, Hứa Thị Kim C là người không có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định, điều khiển xe mô tô, biển số 62M1-376.14 có dung tích xy lanh trên 50cm³ lưu thông trên Đường T theo hướng từ thị trấn C đi ngã tư X. Khi đi đến Km 7+800 Tỉnh lộ 835, thuộc ấp P, xã P, huyện C, C điều khiển xe mô tô sang đường mà không chú ý quan sát nên va chạm với xe mô tô, biển số 71C2-431.49 do Phan Ngọc T1 điều khiển theo chiều ngược lại, gây ra tai nạn. Hậu quả, Phan Ngọc T1 bị tử vong do vỡ gan/suy tuần hoàn cấp. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định “Các hành vi bị nghiêm cấm: điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định” và Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định: “Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”. Hậu quả của vụ tai nạn giao thông làm anh T1 chết, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và do bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định, nên thuộc trường hợp định khung tăng nặng hình phạt theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là: “a. Không có giấy phép lái xe theo quy định”.
[3] Hành vi của bị cáo được thực hiện do lỗi vô ý, là nguy hiểm cho xã hội, khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông không tuân thủ luật giao thông đường bộ đã gây ra tai nạn giao thông nghiêm trọng làm 01 người chết. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, gây thiệt hại tính mạng của người khác, gây mất trật tự an toàn giao thông, làm cho những người tham gia giao thông lo sợ. Do đó cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt thỏa đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự: không.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo và gia đình đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa bà N xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân bị cáo và con bị cáo sau tại nạn cũng bị thương tích, nên bị cáo còn được hưởng những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Xét thấy bị cáo phạm tội có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như đã phân tích tại phần [5] và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, phạm tội với lỗi vô ý. Đối chiếu với các quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018, được sửa đổi bổ sung theo nội dung Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, thì xét thấy không cần cách ly, cho bị cáo hưởng án treo cũng có thể tự cải tạo trở thành người có ích cho xã hội và việc cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[7] Về tang vật thu giữ: Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 71C2-431.49 và 01 (một) xe mô tô biển số 62M1-376.14, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Phan Thị N và bị cáo, là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo và bà Đỗ Thị B là mẹ chồng bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại chi phí mai táng và tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 30.000.000 đồng. Tại phiên tòa đại diện bị hại bà Phan Thị N yêu cầu bồi thường tiếp số tiền 10.000.000 đồng, trước yêu cầu của gia đình bị hại, bị cáo đồng ý, nên ghi nhận. Đối với số tiền 20.000.000 đồng bà B bồi thường thay cho bị cáo, tại phiên tòa bà B không yêu cầu, nên không xem xét.
[9] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và chịu án phí ân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền 10.000.000 đồng còn phải bồi thường cho bị hại theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Hứa Thị Kim C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Hứa Thị Kim C 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án (14/6/2024).
Giao bị cáo Hứa Thi Kim C1 về cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Long An giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585; 586; 591; 357; 468 Bộ luật dân sự.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Hứa Thị Kim C phải bồi thường cho bà Phan Thị N và ông Phan Minh V số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất pháp luật quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, người đại diện theo pháp luật bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Cần Giuộc, ngày 14 tháng 6 năm 2024 |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 10 giờ 30 phút, ngày 14 tháng 6 năm 2024.
Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Danh
Ông Nguyễn Thanh An.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS, ngày 27/5/2024 đối với bị cáo: Hứa Thị Kim Cương.
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Thị Kim Cương phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
2. Về Điều luật áp dụng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
3. Về hình phạt: Xử phạt: Hứa Thị Kim Cương 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án (14/6/2024).
Giao bị cáo Hứa Thi Kim Cương về cho Ủy ban nhân dân xã Phước Lâm, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An giám sát, giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
4. Các vấn đề khác: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; 585; 586; 591; 357; 468 Bộ luật dân sự.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Hứa Thị Kim Cương phải bồi thường cho bà Phan Thị Nguyệt và ông Phan Minh Vương số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất pháp luật quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, người đại diện theo pháp luật bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 10 giờ 45 phút, cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TỌA |
|
NGUYỄN CÔNG DANH – NGUYỄN THANH AN |
NGUYỄN ĐỨC BẢO |
Bản án số 51/2024/HSST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 51/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hứa Thị Kim C phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
