|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày 10/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Bà Nguyễn Thị Hoài Như.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Mai Anh S; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 16/11/1991, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi ĐKHKTT: Khu phố D, phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Chỗ ở: Khu phố D, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Mai Văn Đ; Con bà: Trương Thị G, hiện trú tại: Khu phố D, phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 04 anh chị em, bị can là con thứ tư; Vợ: Nguyễn Thị Thu H - Sinh năm 1994; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con: Mai Nguyễn Tường V - Sinh năm 2020; Hiện cùng trú tại: Khu phố D, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị từ ngày 15/12/2023 cho đến nay, có mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Anh Lê Khắc L1, sinh năm: 1986; trú tại: Khu phố C, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, Mai A S đón xe taxi hãng M tìm đến khu vực kiệt B đường T (thuộc khu phố C, phường A, thành phố Đ) rồi đi bộ vào nhà của Lê Khắc L1 (Sinh năm: 1986; Trú tại: Khu phố C, phường A, thành phố Đ) đến bên cửa sổ, hỏi mua 100.000 đồng ma túy tổng hợp hồng phiến, L1 đồng ý. S đưa tiền qua lỗ kính cửa sổ cho L1 rồi nhận lại 01 đoạn ống nhựa màu trắng bên trong có chứa 03 viên ma túy tổng hợp hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, S cất giấu ở tay trái rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi S vừa đi đến trước quán C số 30 đường T (thuộc khu phố C, phường A, thành phố Đ) thì bị lực lượng Công an thành phố Đ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy trên tại tay trái của S.
Tại bản Kết luận giám định số: 52/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: 03 viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY (được niêm phong trong phong bì ký hiệu M) gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,2999 gam (Không phẩy hai chín chín chín gam).
Cáo trạng số 47/CT-VKSĐH ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Mai A S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai A S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Anh S1 từ 13 tháng đến 15 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì ký hiệu NS3 2117400 có đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen, số IMEI: 356938141974387, đã qua sử dụng không liên quan đến việc phạm tội.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2] Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng định:
Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, Mai A S1 đến nhà của Lê Khắc L1, hỏi mua 100.000 đồng ma túy tổng hợp hồng phiến, L1 đưa cho S1 01 đoạn ống nhựa màu trắng bên trong có chứa 03 viên ma túy tổng hợp hồng phiến. Khi đang đi bộ tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Công an thành phố Đ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy trên tại tay trái của S1. Khối lượng chất ma túy bị thu giữ 0,2999 gam (Không phẩy hai chín chín chín gam), là ma túy loại Methamphetamine.
Hành vi nêu trên của bị cáo Mai A S1 đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung "...Methamphetamine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.
[3] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy. Cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi bị cáo gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt và cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[6] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án
[7] Về xử lý vật chứng:
- Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu NS3 2117400, bên ngoài có hình dấu Phòng Kỹ thuật hình sự và chử ký của những người tham gia niêm phong. Ma túy là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen, số IMEI: 356938141974387 của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.
[8] Về các vấn đề liên quan khác trong vụ án: Lê Khắc L1 là người bán 03 viên ma túy hồng phiến cho Mai Anh S1, đã bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” trong một vụ án khác.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Mai Anh S1 (tên gọi khác: không có) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai A Sơn 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/12/2023.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy:
Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu NS3 2117400, bên ngoài có hình dấu Phòng Kỹ thuật hình sự và chử ký của những người tham gia niêm phong.
+ Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen, số IMEI: 356938141974387.
Các vật chứng trên có đặc điểm như tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà. Hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, buộc bị cáo Mai Anh S1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Anh S
