|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-PT Ngày: 30 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Bùi Minh Thư
Bà Trương Thị Lệ Thu
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Hiền, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 85/2024/HS-PT ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thanh N do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh N; sinh ngày 26/3/1993 tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Xóm P, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Sửa chữa xe máy; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Bùi Thị H; có vợ: Trần Lệ Q; con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/5/2024 cho đến nay, hiện trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt
Trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Hữu B, Trần Trọng C; người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 03/4/2024 đến ngày 11/4/2024, Nguyễn Hữu B, Trần Trọng C đã 05 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 01 giờ ngày 03/4/2024, Nguyễn Hữu B và Trần Trọng C đã chiếm đoạt của anh Lê Văn T1 ở thôn N, xã K một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A05S, màu đen, giá trị 3.600.000 đồng. Sau đó bán cho Nguyễn Mạnh C1 với giá 1.500.000 đồng.
Lần thứ hai: Vào khoảng 02 giờ ngày 03/4/2024, Nguyễn Hữu B và Trần Trọng C đã chiếm đoạt của chị Thái Thị T2 ở tổ dân phố A, phường H, thị xã K một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha màu trắng, biển kiểm soát 38K1- 446.11, giá trị 6.500.000 đồng. Sau đó bán cho Nguyễn Thanh N với giá 4.100.000 đồng.
Lần thứ ba: Vào tối ngày 08/4/2024 tại khu vực V thuộc phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Hữu B và Trần Trọng C chiếm đoạt của ông Nguyễn Trọng C2 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future X màu sơn đen - vàng -xám, biển kiểm soát 38T1-2985, giá trị 8.000.000 đồng. Sau đó bán cho Nguyễn Thanh N với giá 2.700.000 đồng.
Lần thứ tư: Vào khoảng 20 giờ ngày 09/4/2024 tại khu vực tượng đài X thuộc thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Hữu B và Trần Trọng C chiếm đoạt của anh Nguyễn Thống N1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn trắng - đen - bạc, biển kiểm soát 38C1-234.80, giá trị 6.500.000 đồng. Sau đó bán cho Nguyễn Thanh N với giá 2.200.000 đồng.
Lần thứ năm: Vào khoảng 23 giờ ngày 11/4/2024, tại khu vực gần Bệnh viện đa khoa tỉnh H, thuộc phường B, thành phố H, Nguyễn Hữu B và Trần Trọng C chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn T3 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, màu đen, biển kiểm soát 51L7-8930, giá trị 3.000.000 đồng. Trên đường đưa xe bán cho Nguyễn Thanh N thì bị bắt giữ.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu B, Trần Trọng C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Trọng C 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2024.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 điều 323, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thành N2 10.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/7/2024, bị cáo Nguyễn Thanh N kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh N bổ sung nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh:
Áp dụng khoản 1, khoản 5 điều 323, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo Nguyễn Hữu B, Trần Trọng C, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội” là đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội. Quá trình xét xử cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, hình phạt 12 (mười hai) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới: Hoàn cảnh gia đình khó khăn, sau khi xét xử sơ thẩm đã tự nguyện nộp 10.200.000 đồng tiền phạt bổ sung và tiền án phí sơ thẩm, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới bị cáo được hưởng quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật cần xem xét cho bị cáo được cải tạo, giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình mà không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là cũng đủ nghiêm.
[4] Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Thanh N kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh N. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Áp dụng khoản 1, khoản 5 điều 323, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Thanh N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |
Bản án số 51/2024/HS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 51/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh N phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"
