|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-PT Ngày 23/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền, bà Đỗ Thị Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án ND tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLPT-HS ngày 10/5/2024 đối với các bị cáo Nguyễn Gia D, Lê Hữu H do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXPT-HS ngày 14/6/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 28/2024/QĐPT-HS ngày 28/6/2024.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Gia D, sinh ngày 03/01/1979 tại Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn M, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không, con ông Nguyễn Gia D1 và bà Nguyễn Thị T; Vợ: Nguyễn Thị M, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/11/2023 cho đến nay ( có mặt)
- Lê Hữu H, sinh ngày 18/5/1997 tại Hà Nam. Nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Hữu L và bà Trần Thị N; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không, nhân thân: Tháng 02/2016 tham gia nghĩa vụ quân sự tại Trung đoàn B, Sư đoàn C, Quân đoàn A tại S, thành phố Hà Nội đến tháng 01/2018 xuất ngũ trở về địa phương. Bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/01/2024 cho đến nay ( có mặt).
* Bị hại: Anh Trần Thanh S, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Tổ dân phố A P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1963 và bà Trần Thị T2, sinh năm 1962; Đều cư trú tại: Tổ dân phố A P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định (là bố, mẹ đẻ của bị hại).
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà T2: Anh Trần Nam T3, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố A P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 25/10/2023 Nguyễn Gia D có giấy phép lái xe theo quy định, không sử dụng rượu bia điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu CNHTC, màu xanh, biển số đăng ký 17C-167.82 chở vật liệu xây dựng theo hướng từ bãi vật liệu xây dựng của công ty T4 địa chỉ tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình đi trên đường quốc lộ 10 hướng về công trường xây dựng bờ kè sông thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Khoảng 07 giờ 45 phút cùng ngày, khi D điều khiển xe đi đến đoạn đường Q, thuộc địa phận thôn A, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình, hướng từ thị trấn Đ đi thành phố T, D đi ở làn ngoài cách lề đường khoảng một mét. Khi qua cầu A, D bật đèn xin nhan phía bên trái đồng thời điều khiển xe đi ra làn trong. Lúc này D không quan sát về phía trước chiều đường T đi thị trấn Đ mà chỉ quan sát gương chiếu hậu hướng đi thành phố T. Cùng thời gian này, Lê Hữu H có giấy phép lái xe theo quy định, không sử dụng rượu bia, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Super Dream, màu nâu, biển số đăng ký 90B1-517.37, chở sau là anh Trần Thanh S đi trên đường Quốc Lộ 10 theo hướng từ thành phố T đi thị trấn Đ, đi ở làn ngoài cách lề đường khoảng 30-40cm với tốc độ khoảng 50km/giờ, lúc này thời tiết không mưa, mặt đường khô ráo, ánh sáng tự nhiên, trời sáng. Chiều đường thành phố T đi thành phố Hải Phòng được chia thành hai làn đường xe chạy, làn trong giáp với vạch kẻ chia chiều đường có số đo 3.37m; làn ngoài giáp với mép đường bên phải có số đo 3.2m, phân biệt với làn trong bằng vạch sơn nét đứt màu trắng; tiếp giáp với làn ngoài là khu đất trống có lối đường rẽ vào sông S. Khi H điều khiển xe đi đến khu vực km 79+550 Q, thôn A, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình nhìn thấy xe ô tô tải do D điều khiển ở chiều đường thị trấn Đ đi thành phố T, cách xe mô tô của H khoảng 15 đến 20m đang bật đèn xin nhan bên trái chuyển hướng, đồng thời ở làn đường phía trong có một xe ô tô màu trắng đi cùng chiều vượt qua xe của H rồi đi chậm lại, H biết xe ô tô này đi chậm lại để nhường đường cho xe ô tô tải do D điều khiển đang chuyển hướng. Lúc này, H giữ nguyên tốc độ, điều khiển xe vượt lên song song với đầu xe ô tô trắng thì thấy xe ô tô tải do D điều khiển đang sang ngang đường, đi vào đến khoảng 1/2 làn đường xe của H, cách xe mô tô do H điều khiển khoảng 05 đến 07m, H không đạp hết phanh để xe dừng lại mà giảm nhẹ ga,
chân phải đạp nhẹ phanh xe phía sau, chân trái nhấn cần số về số 3 rồi đánh lái sang phải đồng thời tăng ga xe mô tô đi lên để tránh sang phải xe ô tô tải do D điều khiển nhưng do D không chú ý quan sát, chuyển hướng xe không đảm bảo an toàn, không biết có xe mô tô do H đi đến nên vẫn tiếp tục điều khiển xe sang đường dẫn đến bánh trước xe mô tô do H điều khiển đã đâm vào mặt ngoài vành L1 zăng bánh trước bên phải xe ô tô do D điều khiển.
Bản kết luận giám định tử thi số 1607/KLGĐTT-KTHS ngày 06/11/2023 và bản ảnh tử thi của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “1. Các kết quả chính: Khám ngoài: Trên tử thi có các vết sây sát do, trợt miết da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, mặt và toàn thân, trong đó vết tụ máu dạng hình gấp khúc tại toàn bộ vùng lưng, mông, tay phải và chân trái; Khám trong: Vỡ xương sọ vùng chẩm phải, chảy máu não; gãy toàn bộ xương sườn bên phải; vỡ xương cánh chậu phải; vỡ xương mu, gãy xương cánh tay trái; 2. Kết luận: Nạn nhân Trần Thanh S chết do chấn thương sọ não và đa chấn thương”
Bản án sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Điều 46 Bộ luật Hình sự,
- Căn cứ Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.
- Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Gia D và bị cáo Lê Hữu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Lê Hữu H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
Bản án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, nghĩa vụ án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 24/3/2024 bị cáo Lê Hữu H, ngày 25/3/20224 bị cáo Nguyễn Gia D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Hữu H, Nguyễn Gia D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên và tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo nhưng cho hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo của các bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm tử thi, bản ảnh tử thi do cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T; Bản kết luận giám định tử thi số 1607/KLGĐTT-KTHS ngày 06/11/2023 và bản ảnh tử thi của Phòng K Công an tỉnh T; Kết luận giám định số 1724/KL-KTHS ngày 13/12/2023 và phụ lục kèm theo của Phòng K Công an tỉnh T đối với tập video liên quan đến vụ tai nạn giao thông; Phiếu đo nồng độ cồn ngày 25/10/2023 của Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình; Biên bản ghi lời khai của công ty TNHH X; Biên bản ghi lời khai của đại diện bị hại, lời khai người làm chứng. Biên bản thỏa thuận bồi thường. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy bị cáo D điều khiển xe sang đường có bật tín hiệu xin đường nhưng không chú ý quan sát phía trước, không phát hiện thấy xe mô tô do bị cáo H điều khiển chở theo sau là bị hại. Bị cáo H điều khiển xe có quan sát thấy bị cáo D điều khiển xe ô tô sang đường lẽ ra phải giảm ga cho xe dừng lại để đảm bảo an toàn nhưng bị cáo H lại về số tăng ga cho xe vượt lên đầu xe ô tôi nên đã va chạm với xe ô tô do bị cáo D điều khiển, hậu quả làm cho anh S tử vong. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tuyên xử bị cáo D, bị cáo H mức án 01 năm 3 tháng tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Do đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo.
Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo xin được hưởng án treo thì thấy các bị cáo vô ý với hậu quả có thể xảy ra, các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, đã bồi thường toàn bộ cho gia đình bị hại. Tại phiên toà phúc thẩm gia đình bị hại có đơn đề nghị Toà án cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội tự cải tạo. Hội đồng xét xử nhận thấy trước khi phạm tội bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình ở nơi cư trú, nơi làm việc, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, thì các bị cáo có đủ điều kiện để xem xét cho hưởng án treo. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo hình phạt tù và buộc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội là có phần nghiêm khắc. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo mà không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù, cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để các bị cáo cải tạo tại địa phương, tiếp tục lao động nuôi sống bản thân và gia đình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tại phiên tòa là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy có cơ sở để chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giữa nguyên mức hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
[4] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Gia D, Lê Hữu H, sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo nhưng cho hưởng án treo. Cụ thể:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Điều 46 Bộ luật Hình sự,
- Căn cứ Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Gia D và bị cáo Lê Hữu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 23/7/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Gia D cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Bình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục.
- Xử phạt bị cáo Lê Hữu H 01 (một) năm 03 (ba ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 23/7/2024
Giao bị cáo Lê Hữu H cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam, nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục.
- Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019
Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo Nguyễn Gia D, Lê Hữu H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo Nguyễn Gia D, Lê Hữu H phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
II. Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Gia D, Lê Hữu H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
III. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
IV. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 23/7/2024./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa. Vũ Duy Luân |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 51/2024/HS-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 51/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D và Lê Huu H
