Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Huy Bắc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Hải

2. Ông Vũ Văn Hoàn

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thái- Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tuyết Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Nhà văn hóa xóm C, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 19/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 23/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn D, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04/8/1990; Nơi sinh: thành phố Hải Phòng; Nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở hiện tại: Khu G, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn S, đã chết, con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1959; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2010 bị Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Năm 2012 bị Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/5/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.

- Những người tham gia tố tụng khác:

+ Bị hại: Anh Nguyễn Xuân B, sinh năm 1999 – Vắng mặt

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1966 – Có mặt

Cùng nơi cư trú: Xóm B, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

1

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1985 – Có mặt
  2. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng.

  3. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 – Vắng mặt
  4. Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

+ Người làm chứng:

  1. Anh Hoàng Tiến D1, sinh năm 1996 – Vắng mặt
  2. Nơi cư trú: Tổ A, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  3. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987 – Vắng mặt
  4. Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

  5. Anh Trần Trọng L1, sinh năm 1986 – Vắng mặt
  6. Nơi cư trú: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 17/5/2019, Nguyễn Văn D cùng anh Đàm Văn T1, sinh năm 1995, trú tại: tổ B, thị trấn T, huyện Đ, anh Nguyễn Xuân B, sinh năm 1999, trú tại: xóm M, xã N, huyện Đ, anh Hoàng Tiến D1, sinh năm 1996, trú tại: tổ B, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên rủ nhau đi hát Karaoke, khi đó D điều khiển xe mô tô YAMAHA, loại Jupiter BKS 20H9- 3555 (xe D mượn của anh Trần Trọng L1, sinh năm 1985, trú tại tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) chở anh T1; còn B điều khiển xe mô tô HONDA, loại Wave BKS 20B2- 080.02 của mình và D1 điều khiển xe mô tô của mình đến quán K của gia đình anh Lý Văn X, sinh năm 1975 thuộc xóm G, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Trong quá trình hát, anh B có để chìa khóa xe mô tô BKS 20B2- 080.02 và 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng ở trên mặt bàn, thấy vậy D đã nẩy sinh ý định mang chiếc xe mô tô và điện thoại của B đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, trong khi B đang hát, D lợi dụng sơ hở nên đã lấy chìa khóa xe và điện thoại của B để trên bàn nói với D1 là “Anh đi ra đây tỉ”. Sau đó, D nói và rủ T1 đi ra ngoài. D đưa chìa khóa xe mô tô BKS 20B2- 080.02 cho T1 điều khiển chở D (khi đó T1 tưởng D đã mượn B). Đến đoạn đường trước cửa Trạm Y tế xã L, thành phố T thì D bảo anh T1 dừng lại đợi rồi mang đi bán chiếc xe mô tô ở quán C1 tại khu vực đường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên được 5.000.000 đồng, còn chiếc điện thoại D sử dụng sau đó bị hỏng rồi vứt bỏ đi. Sau đó, D về nhà tại Thôn V, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng làm nghề tự do.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20/ĐGTSHS ngày 14/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, xác định: Tại thời điểm

2

định giá ngày 17/5/2019, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE BKS 20B2- 080.02 có giá trị là: 16.100.000 đồng; 01 điện thoại Iphone 7 plus 32GB, màu hồng, đã qua sử dụng có giá trị là: 8.200.000đ. Tổng giá trị là 24.300.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus 32GB, màu hồng, đã qua sử dụng, không thu giữ được; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, BKS 20H9- 3555, đã qua sử dụng, hiện đã trả cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, BKS 20B2- 080.02, đã qua sử dụng, hiện chủ sở hữu đang quản lý, sử dụng; Số tiền 13.200.000 đồng là tiền bị cáo tác động gia đình bồi thường cho bị hại, hiện đang bảo quản theo quy định, chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Xuân B ủy quyền cho bà Bùi Thị L (mẹ đẻ) yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 13.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKSÐ, ngày 16/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Xuân B số tiền 13.000.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: Tiếp tục tạm giữ số tiền 13.200.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo, người đại diện ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

3

[1]. Về tội danh: Khoảng 22 giờ 30 ngày 17/5/2019, tại quán K của gia đình anh Lý Văn X, sinh năm 1975 thuộc xóm G, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Văn D đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, BKS 20B2- 080.02 có giá trị là 16.100.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 7 plus 32GB, màu hồng, đã qua sử dụng có giá trị là 8.200.000đ, tổng giá trị là 24.300.000 đồng của anh Nguyễn Xuân B.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với đơn trình báo, biên bản sự việc, đặc điểm loại tài sản chiếm đoạt, sơ đồ, bản ảnh, biên bản hiện trường, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng đã thu được và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Hội đồng xét xử thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung Điều 173 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng......, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ....

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

[2]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo được coi là chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân rất xấu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động đến gia đình tự nguyện nộp tại Cơ quan điều tra số tiền 13.200.000 đồng để bồi thường cho bị hại, tại phiên tòa người dại diện theo ủy quyền của bị hại đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Khi lượng hình, xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử và đi cải tạo tập trung nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện trở thành người công dân tốt mà tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.

4

[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bà Bùi Thị L là người được bị hại anh Nguyễn Xuân B ủy quyền yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 13.000.000 đồng. Bị cáo nhất trí nên cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Xuân B số tiền là 13.000.000 đồng.

[5]. Vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, BKS 20H9- 3555, đã qua sử dụng, quá trình điều tra Công an huyện Đ đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị H quản lý, sử dụng là phù hợp.
  • - Đối với số tiền 13.200.000 đồng gia đình bị cáo nộp tại Cơ quan điều tra mục đích để bồi thường cho bị hại nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

[6]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận; tuy nhiên về đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nghẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa phù hợp.

[7]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Bị hại và người đại diện theo ủy quyền của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử; Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người đại diện theo ủy quyền của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[9]. Ngoài ra, trong vụ án này còn có anh Đàm Văn T1 là người đi cùng bị cáo và điều khiển chiếc xe mô tô mà bị cáo trộm cắp được; tuy nhiên anh T1 hoàn toàn không biết và không liên quan đến hành vi trộm cắp của bị cáo nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không xem xét xử lý là phù hợp.

Đối với cửa hàng cầm đồ Hoàng P tại khu vực đường T, thành phố T đã mua chiếc xe mô tô mà bị cáo trộm cắp được với giá 5.000.000đ. Tuy nhiên, sau

5

đó bị hại anh Nguyễn Xuân B đã đến và chuộc lại chiếc xe trên, chủ cửa hàng hoàn toàn không biết và không có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không xem xét xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn D 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2024. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn D 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585; Điều 589; Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Nguyễn Văn D có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Xuân B số tiền là 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng).
  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357; Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

    Đối với quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án, được thực hiện theo quy định tại Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Tiếp tục tạm giữ số tiền 13.200.000đ (Mười ba triệu hai trăm nghìn đồng) theo Ủy nhiệm chi số 195 ngày 29/8/2024 giữa Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Nguyễn Văn D.
  5. Lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD lưu trữ file ghi âm, ghi hình hỏi cung bị can Nguyễn Văn D.
  6. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 650.000đ (Sáu trăm năm mươi nghìn đồng) án

6

phí Dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; người đại diện theo ủy quyền của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị N, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị H, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đ;
  • - Công an huyện Đ;
  • - Cơ quan THA hình sự - CA huyện Đ;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
  • - UBND xã V, huyện T, thành phố H;
  • - Bị cáo, Bị hại; Người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - Lưu: Hồ sơ, bộ phận Hình sự .

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Huy Bắc

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 51/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 22 giờ 30 ngày 17/5/2019, tại quán K của gia đình anh Lý Văn X, sinh năm 1975 thuộc xóm G, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nguyễn Văn D đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, BKS 20B2- 080.02 có giá trị là 16.100.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 7 plus 32GB, màu hồng, đã qua sử dụng có giá trị là 8.200.000đ, tổng giá trị là 24.300.000 đồng của anh Nguyễn Xuân B.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger