|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày 21-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh và ông Nguyễn Mạnh Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Phương Thảo- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trương Văn H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03 tháng 02 năm 1986 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm L, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thổ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Văn B và con bà Đậu Thị H1; Vợ: Nguyễn Thị Vân A (đã ly hôn) và 01 con; Sống chung như vợ chồng với chị Hoàng Thị L, sinh năm 1986, trú tại khối H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An từ năm 2014 đến năm 2019 và có 02 con chung; Vợ hiện tại: Chị Vi Thị H2, sinh năm 1996, trú tại Xóm L, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An và có 02 con.Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 30/6/2022 Tòa án nhân dân huyện Qùy Hợp, tỉnh Nghệ An ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 111/2024/QĐ-TA ngày 30/6/2024 đến ngày 07/10/2023 chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26 tháng 01 năm 2024 đến nay. Có mặt
2. Họ và tên: Lương Văn X, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14 tháng 9 năm 1977 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Bản X, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 08/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn M và con bà Lộc Thị P; Vợ: Lô Thị K (đã ly hôn) có 02 con; chị Vy Thị H3 (đã ly hôn) và có 01 con; Hiện đang chung sống với chị Lô Thị M1, sinh năm 1989, trú tại bản Vẽ, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An từ năm 2017 đến này và có 01 con chung.
Tiền sự: Không, tiền án: Ngày 26/7/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đến ngày 30/4/2023 chấp hành xong hình phạt.
Nhân thân: Ngày 25/9/1999 bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 17/1999/HSST. Đã chấp hành xong phần quyết định của bản án và đã được xóa án tích.
Ngày 27/01/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo bản án số 11/2010/HSST. Đã chấp hành xong phần quyết định của bản án và đã được xóa án tích.
Ngày 10/6/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội Đánh bạc theo bản án số 52/2014/HSST. Đã chấp hành xong phần quyết định của bản án và đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25 tháng 4 năm 2024 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Vi Thị B1, chị Lê Thị Thanh H4; ông Trương Văn B, anh Lô Minh H5 (Vắng mặt không có lý do), chị Lô Thị M1 (có mặt);
- Người làm chứng: Anh Vi Văn V (Vắng mặt không có lý do);
- Người chứng kiến: Anh Đồng Văn G (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng đầu tháng 01 năm 2024, Trương Văn H đến nhà của Lương Văn X ở bản X, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An chơi. Quá trình nói chuyện biết H là người nghiện ma túy nên Lương Văn X hỏi H biết chỗ nào để mua ma túy H6 phiến sử dụng, H nói khi nào tìm được chỗ mua sẽ liên lạc với X để đi mua về cùng nhau sử dụng.
Đến khoảng 01 giờ, ngày 25/01/2024, khi Trương Văn H đang điều khiển xe máy nhãn hiệu SYM, Attila biển kiểm soát 37B1-356.95 đi chơi tại khu vực bản Vẽ, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An thì lên cơn nghiện chất ma túy nên H lấy điện thoại di động có gắn thẻ sim số thuê bao 0376.236.861 gọi điện đến số thuê bao 0326.617.666 của Lương Văn X hỏi: “Xuyên có mua ma túy hồng phiến không để H đi mua về cùng nhau sử dụng?” X trả lời: “Có”. Sau đó H nói: “Em không có tiền”. Nghe vậy, Lương Văn X nói Trương Văn H đi đến bản Vẽ, xã Y, huyện T để gặp X lấy tiền đi mua ma túy. Khoảng 10 phút sau, Trương Văn H điều khiển xe máy đi đến khu vực ngã ba bản Vẽ, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An và gặp Lương VănXuyên. Lương Văn X dẫn Trương Văn H đi vào nhà ông Lô Xuân T, sinh năm 1957, ở bản Vẽ, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An để gửi xe máy mà H đang điều khiển. Lương Văn X đưa cho H số tiền số tiền 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng) để đi mua ma túy, trong đó có 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) đổ xăng và nói H lấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Winner, biển kiểm soát 37D1-075.76. Lấy tiền và xe máy xong Trương Văn H một mình điều khiển xe máy đi mua ma túy. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, Trương Văn H điều khiển xe máy đi đến khu vực bản Mường Lống, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 03 gói Hồng phiến đều được gói bằng bao ni lông màu xanh với số tiền 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Mua ma túy xong, biết có lực lượng Cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ nên Trương Văn H ngồi chờ. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H điều khiển xe máy và mang theo số ma túy đi về nhà ở xóm L, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An để nghỉ ngơi.
Đến khoảng 05 giờ ngày 26/01/2024, Trương Văn H điều khiển xe máy đi đến huyện T để gặp Lương Văn X. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày khi H đi đến khu vực bản N, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an huyện T, tỉnh Nghệ An kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi áo khoác bên phải của H đang mặc 03 gói ni lông màu xanh bên trong đều chứa các viên nén màu hồng. Đồng thời thu giữ của H 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Winner, biển kiểm soát 37D1-075.76; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, mã IMEI: 355177/05/554909/8 bên trong có gắn thẻ sim số thuê bao 0376.236.861. Trương Văn H khai nhận số viên nén màu hồng là Hồng phiến của Lương Văn X đưa tiền và xe máy cho H đi mua về cùng nhau sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số: 231/KL- KTHS (Đ2 - MT), ngày 30/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu viên nén màu hồng (kí hiệu từ M1 đến M3) thu giữ của Trương Văn H gửi tới giám định là ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 50,8g (Năm mươi phẩy tám gam).
Ngày 25/4/2024, sau khi nhận thức được hành vi phạm tội của mình Lương Văn X đã đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số 52/CT-VKS-TD ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố Trương Văn H, Lương Văn X về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Văn H mức án từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt Lương Văn X mức án 12 năm đến 12 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo, xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án;
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Trương Văn H, Lương Văn X đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 10 giờ, ngày 15/11/2024, tại bản K, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An, Trương Văn H và Lương Văn X đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,44 (Không phẩy sáu mươi tư) gam ma túy Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đối với các bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, các bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đây là vụ án có nhiều người tham gia thực hiện tội phạm với tính chất đồng phạm giản đơn nên cần phân hóa vai trò của từng người để áp dụng khi quyết định hình phạt.
Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Lương Văn X là người có vai trò chính trực tiếp rủ rê, giúp sức đưa tiền mua ma túy cho bị cáo Trương Văn H, còn bị cáo H là đồng phạm với vai trò là người thực hành đi mua ma túy nên áp dụng Điều 58 BLHS cho các bị cáo để lên một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo có 01 tiền sự. Bị cáo Lương Văn X có nhân thân xấu và có 01 tiền án đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 bộ luật hình sự nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân phạm tội của các bị cáo.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với việc làm của bản thân. Bị cáo H có bố đẻ được Ban tặng kỉ niệm chương Thanh niên xung phong, ngoài ra bị cáo Trương Văn H sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án. Bị cáo X có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất đây là tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, riêng bị cáo H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất theo lời đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của các bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Trương Văn H. quá trình điều tra chưa xác minh được nhân thân, lý lịch cụ thể của những người này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với ông Trương Văn B và chị Lô Thị M1 là những người đã cho các bị can H và X mượn điện thoại, quá trình điều tra xác định việc H sử dụng xe máy đi mua ma túy và X mượn điện thoại thì ông B và chị M1 không biết nên hành vi của ông B, chị M1 không cấu thành tội phạm.
Đối với bà Vi Thị B1 và anh Lô Minh H5 là những người đã cho các bị can H và X mượn xe máy, do bà B1 và anh H5 không biết việc H và X mượn xe máy để đi mua ma túy nên hành vi của bà B1 và anh H5 không không cấu thành tội phạm.
[7] Xử lý vật chứng:
- 50,8g (Năm mươi phẩy tám) gam ma túy Methamphetamine, đã lấy 1,5 (Một phẩy năm) gam Methamphetamine gửi trưng cầu giám định chất ma tuý là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SYM, Attila biển kiểm soát 37B1-356.95, màu sơn đỏ, số khung DBD-053741, Số máy : BBD-053741. Quá trình điều tra xác định đây là chiếc xe máy thuộc sở hữu của bà Vi Thị B1, sinh năm 1973, trú tại bản Cả, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Bà B1 không biết việc bị cáo H sử dụng chiếc xe máy này để đi mua ma túy nên cần trả lại cho bà B1 là phù hợp.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, mã IMEI: 355177/05/554909/8 bên trong có gắn số thẻ sim thuê bao 0376.236.861 thu giữ của Trương Văn H. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại và thẻ sim trên thuộc sở hữu của ông Trương Văn B, sinh năm 1957, trú tại xóm L, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, việc bị cáo H mượn sử dụng liên lạc với bị cáo X về việc mua ma túy ông B không biết nên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại trên cho ông B là đúng theo quy định của pháp luật.
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Winner, có gắn biển kiểm soát 37D1-075.76, Quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc sở hữu của anh Lô Minh H5, sinh năm 1999, trú tại bản C, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An việc Lương Văn X đưa xe máy cho Trương Văn H đi mua ma túy anh H5 không biết nên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy cho anh H5 là đúng quy định pháp luật.
Đối với biển kiểm soát số 37D1-075.76 gắn trên chiếc xe máy của anh H5 là biển số giả nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen có gắn thẻ sim số thuê bao 0326617666 hiện bị mất, cơ quan điều tra đã tiến hành tìm kiếm nhưng không thấy.
[8] Án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo Trương Văn H, Lương Văn X là hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên miễn án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo. Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố các bị cáo Trương Văn H, Lương Văn X phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng: Điểm b khoản 3 Điều 249, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Văn H.
- Áp dụng: Điểm b khoản 3 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lương Văn X.
+ Xử phạt: Trương Văn H 10 (Mười) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.
+ Xử phạt: Lương Văn X 11 (mười một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2024.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án là ma túy;
- Trả lại 01 chiếc xe máy nhãn hiệu SYM, Attila biển kiểm soát 37B1-356.95, màu sơn đỏ, số khung DBD-053741, Số máy : BBD-053741 cho bà Vi Thị B1, sinh năm 1973, trú tại bản Cả, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
- Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát số 37D1-075.76 (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 25.7.2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Trương Văn H, Lương Văn X.
Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 21/8/2024. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Cường |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
