|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày: 20-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nông Phú.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hải.
Ông Bùi Tấn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Thành Tâm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Trinh Nhân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Hồng T, sinh ngày 24 tháng 02 năm 2001; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thúy A; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: chưa có; tạm giữ, tạm giam: Không; có mặt.
- Bị hại: Phan Hữu H (Đ), sinh ngày 18/11/1988; nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
- Người làm chứng: Nguyễn Thúy A, Trần Văn T1, Châu Tuấn A1; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước, vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/5/2024, Phan Hữu H điều khiển xe mô tô chở theo Châu Tuấn A1, bạn của H, đi ngang nhà của Nguyễn Hồng T. Lúc này, T đang đứng nói chuyện với Trần Văn T1 trước nhà, T nói với H “Bữa hổm mày chữi tao cái gì?”. H trả lời “Mày muốn cái gì?”, hai bên cự cải nhau. Thái ra phía sau nhà lấy cây giũ ba khúc bằng kim loại tổng chiều dài 65cm, tay cầm ốp nhựa màu đen, chạy lại thì H dùng chân phải đạp trúng bụng T. Sau đó, T và H đứng đối diện, cách nhau khoàng 01 mét, T cầm cây giũ ba khúc bằng tay phải đánh liên tục 03 cái theo hướng từ trên xuống, cái thứ nhất và cái thứ hai đánh trúng vùng đỉnh đầu, vùng đầu gần trán, cái thứ ba đánh từ trên xuống, H đưa tay trái lên đỡ nên trúng vào tay trái của H. Sau đó, mẹ T là bà Nguyễn Thúy A can ngăn và kéo T vào nhà. H đi điều trị thương tích tại Bệnh viện Đ.
Ngày 29/5/2024, Phan Hữu H làm đơn yêu cầu giám định tỷ lệ thương tích và yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Hồng T.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 326/KLTTCT-TTPYĐT ngày 20/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: Sẹo vết thương phần mềm giữa đỉnh, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương 01%. Sẹo vết thương phần mềm đỉnh trán phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương 02%. Nứt sọ vùng trán bên phải chiều dài đường nứt khoảng 05cm. Tỷ lệ tổn thương 13%. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Hữu H tại thời điểm giám định là 16%. Kết luận khác: Cơ chế hình thành tổn thương do ngoại lực tác động, có chiều hướng từ trên xuống, do vật tày gây ra.
Vật chứng thu giữ: 01 cây giũ ba khúc có tổng chiều dài 65cm, tay cầm ốp nhựa màu đen (đã qua sử dụng). Đây là hung khí Nguyễn Hồng T mua tại thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 03/2024 (không nhớ tiệm nào và ai bán), T dùng gây thương tích cho Phan Hữu H.
Về trách nhiệm dân sự: Biên bản ghi lời khai và biên bản thỏa thuận dân sự ngày cùng 25/7/2024: Phan Hữu H yêu cầu bị cáo Nguyễn Hồng T bồi thường tiền điều trị vết thương có hóa đơn là 1.421.000 đồng; tiền thay băng, rửa vết thương sau xuất viện là 600.000 đồng; tiền ngày công lao động 02 ngày x 400.000 đồng = 800.000 đồng, tiền thuê xe đi điều trị vết thương 179.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 2.000.000 đồng, tổng cộng là 5.000.000 đồng. Bị cáo T không thống nhất bồi thường, yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, thỏa thuận bị cáo T bồi thường cho bị hại H 5.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng truy tố số 47/CT-VKSHN ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đề nghị: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS), tuyên bố bị cáo
phạm “Tội cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy vật chứng nêu trên. Về dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại tại phiên tòa.
Bị cáo T không bào chữa, tranh luận, cũng không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi của mình như nội dung Cáo trạng, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, chứng minh được:
[3] Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi cầm cây giũ ba khúc bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đánh trúng đỉnh đầu, đỉnh trán phải làm nứt sọ vùng trán bên phải gây tổn thương cơ thể của bị hại Phan Hữu H là 16%. Do vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Thái phạm “Tội cố ý gây thương tích” theo điểm điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS, quy định:
“Điều 134 Tội cố ý gây thương tích
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng ... hung khí nguy hiểm...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này...”
[4] Như vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo có lỗi cố ý trực tiếp và đã thực hiện tội phạm hoàn thành.
[6] Sức khỏe, tính mạng là vốn quý báu của con người, vì con người sống có sức khỏe mới tạo ra của cải vật chất cho gia đình và xã hội, mọi hành vi xâm hại đến sức khỏe, tính mạng đều phải bị pháp luật xử phạt một cách thích đáng, có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Bị cáo nhận thức được hành vi cố ý gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, trực tiếp xâm phạm, gây tổn thương cơ thể của người khác được pháp luật bảo vệ. Cụ thể, bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại T, trong khi sự việc mâu thuẫn không lớn, nhưng vì bản tính côn đồ, hung hăng, thích hành xử với người khác bằng bạo lực nên dẫn đến hành vi phạm tội.
[7] Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự bất chấp, xem thường pháp luật, nên phải xử phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Xét tính chất, mức độ, ý thức và hậu quả của tội phạm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện răn đe, giáo dục giúp bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội và phòng ngừa chung cho những ai có tư tưởng thích dùng bạo lực tương tự.
[8] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[9] Về nhân thân, tiền án, tiền sự: Chưa có.
[10] Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS; Bị cáo phạm tội lần đầu, thành phần nhân dân lao động, trình độ học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, tại phiên tòa đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho bị hại, nên Hội đồng xét xử xem xét là tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Căn cứ vào các tình tiết vừa nêu để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên chấp nhận, sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật nên công nhận.
[12] Về xử lý vật chứng: Viện kiểm sát đề nghị phù hợp nên chấp nhận.
[13] Các vấn đề khác Viện kiểm sát không đề cập là phù hợp nên không xem xét.
[14] Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng T phạm “Tội cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự, công nhận sự thỏa thuận của bị cáo với bị hại:
2.1. Bị cáo Nguyễn Hồng T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Phan Hữu H số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
2.2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về xử lý vật chứng, căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 cây giũ ba khúc có tổng chiều dài 65cm, tay cầm ốp nhựa màu đen (đã qua sử dụng). Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp quản lý theo Biên bản giao, nhận ngày 01 tháng 10 năm 2024.
4. Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí, lệ phí tòa án kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20 tháng 11 năm 2024).
6. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Phần quyết định bồi thường thiệt hại về sức khỏe được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nông Phú |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về tội cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: [3] Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi cầm cây giũ ba khúc bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đánh trúng đỉnh đầu, đỉnh trán phải làm nứt sọ vùng trán bên phải gây tổn thương cơ thể của bị hại Phan Hữu H là 16%. Do vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Thái phạm “Tội cố ý gây thương tích” theo điểm điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS
