|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày: 19/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Nghĩa Toàn và bà Lê Thị Lan.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn N, tên gọi khác: không; sinh ngày: 30 tháng 01 năm 1995 tại: Thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường T, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn H; con bà: Trần Thị H1; vợ: Lữ Thị H2; con: Có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/9/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự - đã chấp hành xong toàn bộ bản án vào ngày 21/3/2023; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Người bị hại:
1, Anh Nguyễn Văn T; sinh năm: 1969; địa chỉ: Xóm H, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt. (có đơn xin xử vắng mặt).
2, Chị Nguyễn Thị Hồng T1; sinh năm: 1992; địa chỉ: Xóm K, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
3, Anh Nguyễn Đoàn N1; sinh năm: 2003; địa chỉ: Khối 1 thị trấn Tân Kỳ, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Thành Đ; sinh năm: 2002; nơi cư trú: K, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 05/6/2024 đến ngày 12/6/2024, Lê Văn N đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp, cụ thể như sau:
+ Khoảng hơn 11 giờ ngày 05/6/2024, N đi đến phòng trọ của anh Nguyễn Văn T, phát hiện có 01 xe mô tô mang BKS: 98F1-379.96, nhãn hiệu Honda, số loại: Wave A, màu sơn: trắng đen bạc đang để ở sân phòng trọ, không có ai trông coi. N đi đến xe mô tô thấy xe đã khóa. Do không có chìa khóa xe nên N dắt bộ xe mô tô đi đến một quán sửa xe tại thành phố V (N không biết địa chỉ của quán S) và cắt chìa khóa xe sau đó N điều khiển xe mô tô vừa trộm được đi đến và gửi tại nhà anh Lê Thành Đ (địa chỉ: K, phường H, thành phố V) để khi nào tìm được người mua xe thì N sẽ đến lấy bán.
+ Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, Lê Văn N khi đi bộ qua cửa hàng thuốc tây “Thắm Quyền”, thuộc xóm K, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An thì phát hiện có 01 xe mô tô mang BKS: 37B2-769.07, nhãn hiệu: Honda, số loại: Vision, màu sơn: đỏ đen của chị Nguyễn Thị Hồng T1 dựng bên lề đường ở trước cửa hàng, không có ai trông coi, xe đang cắm sẵn chìa khóa. N tiến đến xe mô tô rồi ngồi lên xe điều khiển với mục đích đi về phòng trọ của chị Nguyễn Thị H3 tại xóm K, xã H, huyện H (H3 là bạn của N) để cất dấu.
Trên đường đi, Nam tiếp tục phát hiện có 01 xe mô tô mang BKS: 37B2-020.09, nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave alpha, màu sơn: đen, của anh Nguyễn Đoàn N1 đang để ở trước cổng phòng trọ tại xóm K, xã H, huyện H không có ai trông coi nên N1 nảy sinh ý định tiếp tục trộm cắp chiếc xe mô tô này. N1 tiếp tục đưa xe vừa trộm được của chị T1 về phòng trọ của chị H3 và đem cất giấu tại hành lang của phòng trọ. Cất dấu xong N1 đi bộ lại cổng phòng trọ tại xóm K, xã H, huyện H để trộm xe xe mô tô mang BKS: 37B2-020.09 của anh Nguyễn Đoàn N1
(Lúc này khoảng 11 giờ cùng ngày). Vì không có chìa khóa xe nên N1 phải dắt bộ xe mô tô về phòng trọ của mình. Sau đó, N1 thuê một người lái xe ôm (N1 không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này) đẩy chiếc xe mô tô đó đến quán sửa xe ở thành phố V để đấu điện. Sau khi đấu điện xong, N1 nổ máy điều khiển xe đi xuống khu vực chợ đầu mối V thuộc thành phố V để cắt chìa khóa xe. Khi cắt được chìa khóa xe, N1 mở cốp xe thấy có một giấy chứng nhận đăng ký của xe mô tô BKS: 37B2-020.09. Kiểm tra xong, N1 điều khiển xe mô tô đi đến nhà Lê Thành Đ và vay của Đ số tiền 4.000.000 đồng. N1 đã để lại xe mô tô mang BKS: 37B2-020.09 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô để làm tin. Vì không biết đó là xe mô tô do N1 trộm cắp được mà có nên Đ đã đồng ý cho N1 để xe lại và cho N1 vay số tiền 4.000.000 đồng. N1 cầm số tiền này đi chơi G và đã tiêu hết số tiền đó. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N1 thuê xe ôm đi về phòng trọ của chị H3. Tại đây N1 đã tháo biển số xe mô tô BKS: 37B2-769.07 (xe của chị T1) đem cất giấu tại phòng trọ của chị H3. Sau đó, Nam lắp biển kiểm soát 38F1-208.86 vào xe chị T1 để sử dụng làm phương tiện đi lại.
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, chị Nguyễn Thị Hồng T1 đến Công an xã H, huyện H trình báo về việc bị mất trộm tài sản.
Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Văn N2, thu giữ: 01 xe mô tô mang BKS 38F1- 206.86, nhãn hiệu: Honda, số loại: Vision, màu sơn: đỏ đen, số khung 5808EY869815, số máy JF58E0869855, xe đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) biển số xe mô tô 37B2-769.07); 01 (một) cờ lê số 10; 01 (một) thẻ nhân viên công ty L ICT mang tên Lê Văn N; 01 (một) áo phông nam ngắn tay màu xanh, cổ áo viền màu trắng, có in chữ Adidas phía trước bên trái; 01 (một) quần đùi vải màu đen, hai bên ống quần có in chữ VL màu trắng, phía trước quần có in chữ LOUISVUITION; 01 (một) áo phông nam ngắn tay màu trắng, cổ áo màu tím than, phía trước có in nhiều hình sao năm cánh và chữ QATAR AIRWAYS màu tím than; 01 (một) ô chất liệu vải nilon, mặt ngoài màu xanh, phía trong màu đen, cán ô màu đen bạc, kích thước ô dài 33cm; 01 (một) áo sơ mi màu trắng, dài tay.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-ĐGTS ngày 20/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave A, sơn màu trắng đen bạc, BKS 98F1-379.96, số khung: RLHJA3928NY043209, số máy JA39E2539989, xe đã qua sử dụng, mua mới từ năm 2022 có giá trị tại thời điểm 05/6/2024 là 9.450.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave Anpha, màu sơn đen bạc, BKS 37B2-020.09, số khung: BY- 433543, số máy C12E- 3233640, xe đã qua sử dụng, mua lại từ năm 2020 có giá trị tại thời điểm 12/6/2024 là 6.500.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu sơn đen, BKS 37B2- 769.07, số khung: 5808EY869815, số máy JF58E0869855, xe đã qua sử dụng, mua lại từ năm 2020 có giá trị tại thời điểm 12/6/2024 là 12.250.000 đồng.
Cáo trạng số 51/CT-VKS-HN ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lê Văn N về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa Lê Văn N đã khai nhận hành vi mà bị cáo thực hiện giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52: Xử phạt bị cáo từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về dân sự: Áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Lê Văn N phải trả lại số tiền 4.000.000 đồng cho anh Lê Thành Đ; về vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, màu trắng; 01 (biển số xe mô tô 38F1- 206.86; 01 cờ lê số 10; 01 áo phông nam ngắn tay màu xanh, cổ áo viền màu trắng; 01 quần đùi vải màu đen, hai bên ống quần có in chữ VL màu trắng; 01 áo phông nam ngắn tay màu trắng, cổ áo màu tím than; 01 ô chất liệu vải nilon, mặt ngoài màu xanh; 01 áo sơ mi màu trắng. Trả lại cho bị cáo: 01 thẻ nhân viên công ty L ICT mang tên Lê Văn N; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên là hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ xác định tội danh: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo là thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 05/6/2024 đến ngày 12/6/2024, tại khu vực xóm K, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, Lê Văn N đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trộm cắp 03 chiếc xe mô tô có tổng giá trị 28.200.000 đồng, cụ thể:
- - Khoảng 10 giờ ngày 05/6/2024, Lê Văn N đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave A, sơn màu trắng đen bạc, BKS 98F1- 379.96 của anh Nguyễn Văn T;
- - Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 12/6/2024, Lê Văn N đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu sơn đen, BKS 37B2- 769.07 của chị Nguyễn Thị Hồng T1;
- - Khoảng 11 giờ ngày 12/6/2024, Lê Văn N đã thực hiện trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave Anpha, màu sơn đen bạc, BKS 37B2- 020.097 của anh Nguyễn Đoàn N1.
Do 03 chiếc xe mô tô của anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Hồng T1 và anh Nguyễn Đoàn N1 được Hội đồng định giá kết luận có giá trị lần lượt là: 9.450.000 đồng; 12.250.000đ và 6.500.000đ. Nên hành vi của bị cáo Lê Văn N đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Đây là vụ án xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của các chủ sở hữu để chiếm đoạt 03 chiếc xe mô tô có tổng trị giá là 28.200.000 đồng. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý nghiêm bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cần xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tình tiết này được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy: Vào năm 2021 bị cáo mới bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử tù nhưng cho hưởng án treo về tội: “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân nay lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bên cạnh đó, chỉ trong một thời gian ngắn bị cáo lại thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản (03 vụ) nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục và cải tạo bị cáo. Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (là hình phạt tiền) đối với bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị Hồng T1 và anh Nguyễn Đoàn N1 đã được nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lê Thành Đ yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 4.000.000đ (là tiền mà bị cáo đã vay anh Đ). Tại phiên tòa bị cáo đồng ý trả lại cho anh Đ nên Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc bị cáo phải trả lại tiền cho anh Đ
[6]. Về vật chứng: Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 biển số xe mô tô 38F1-206.86; 01 cờ lê số 10; 01 thẻ nhân viên công ty L mang tên Lê Văn N; 01 áo phông nam ngắn tay màu xanh, cổ áo viền màu trắng; 01 quần đùi vải màu đen; 01 áo phông nam ngắn tay màu trắng; 01 ô chất liệu vải nilon, mặt ngoài màu xanh; 01 áo sơ mi màu trắng, dài tay.
Xét thấy: Chiếc cờ lê là công cụ mà bị cáo sử dụng để tháo và đổi biển số xe nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với thẻ nhân viên bị cáo xin nhận lại. Đây là giấy tờ thuộc về cá nhân bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo. Tất cả các vật chứng còn lại là tài sản của bị cáo, đã cũ không còn giá trị nên bị cáo từ chối nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Đối với người đàn ông làm nghề lái xe ôm- là người giúp N đưa xe mô tô trộm được của chị T1 đi sửa và những người thay chìa khóa xe mô tô cho N. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không xác định được họ tên, địa chỉ của những người này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với anh Lê Thành Đ và chị Nguyễn Thị H3, họ không biết xe mô tô BKS: 98F1-379.96, xe mô tô BKS: 37B2-020.09 và xe mô tô BKS: 37B2-769.07 mà Lê Văn N cất giấu tại nơi ở của mình là tài sản do trộm cắp mà có nên không phạm tội.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 12/6/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình Điều 463, 466 Bộ luật Dân năm 2015: Buộc bị cáo Lê Văn N phải trả cho anh Lê Thành Đ số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi phải thi hành xong khoản tiền phải thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, màu trắng; 01 biển số xe mô tô 38F1-206.86; 01 cờ lê số 10; 01 áo phông nam ngắn tay màu xanh; 01 quần đùi vải màu đen; 01 áo phông nam ngắn tay màu trắng, cổ áo màu tím than; 01 ô chất liệu vải nilon, mặt ngoài màu xanh; 01 áo sơ mi màu trắng, dài tay.
Trả lại cho bị cáo Lê Văn N: 01 thẻ nhân viên công ty L ICT mang tên Lê Văn N.
(Đặc điểm chi tiết của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 08/8/2024 giữa Công an huyện H và Cục thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thanh |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Thị Lan |
Hoàng Nghĩa Toàn |
Nguyễn Thị Kim Thanh |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án trộm Lê Văn Nam
