|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày 06 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phí Thị Phương Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Thế Phương - Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Chi Lăng, thị xã Tịnh Biên;
- - Ông Nguyễn Lâm Tới - Nguyên Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Chi Lăng, thị xã Tịnh Biên.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Cẩm Tiên, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều, bà Trần Thị Thanh N - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn G (G), sinh năm 1990, tại M, Tiền Giang; nơi đăng ký thường trú: không nơi cư trú nhất định; chỗ ở: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Văn N1 (đã chết) và bà Phạm Ngọc T; có vợ là Phạm Thị Cẩm H và có 01 con sinh năm 2020; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai;
Nhân thân: Ngày 19-8-2009, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đ xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đến ngày 31-12-2010, chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích. Ngày 28-11-2011, bị Toà án nhân dân thị xã Châu Đốc (nay là thành phố C) xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”; đến ngày 30-8-2017, chấp hành xong hình phạt tù, đã được xoá án tích. Ngày 09-10-2019, bị Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 02 năm; đến ngày 08-6-2021, chấp hành xong, đã được xóa tiền sự.
2
Tiền án: Ngày 24-01-2022, bị Toà án nhân dân huyện Tịnh Biên (nay là thị xã T) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; đến ngày 27-3-2023, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-02-2024 đến ngày 07-3-2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
2. Nguyễn Quốc V (T1), sinh ngày 17-10-2000, tại C, An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Văn S và bà Phạm Thị Thu T2; có vợ là Nguyễn Thị Mỹ T3 và có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai.
Nhân thân: Ngày 17-8-2020, bị Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; đến ngày 01/9/2021, chấp hành xong, đã được xoá án tích.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01-3-2024 đến ngày 08-3-2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
3. Nguyễn Văn Đ1 (L), sinh ngày 04-6-2009, tại An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ I, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: chạy xe đò; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị N2; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27-02-2024 đến ngày 07-3-2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn Đ1: Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1991, nơi cư trú: tổ I, khóm V, phường N thành phố C, tỉnh An Giang; (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đ1: Bà Văng Thị V1, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp Pháp lý nhà nước tỉnh A; (có mặt).
4. Nguyễn Ngọc Đ2, sinh ngày 21-6-2008, tại T, An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con bà Nguyễn Thị Mỹ H1, không rõ họ tên cha; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03-3-2024 đến ngày 08-3-2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc Đ2: Bà Nguyễn Thị
3
T4, sinh năm 1957, nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc Đ2: Bà Phạm Thanh Ái D, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp Pháp lý nhà nước tỉnh A; (có mặt).
Bị hại:
- - Thạch Bảo A, sinh ngày 01-02-2008, nơi cư trú: tổ E, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Thạch Bảo A: Ông Thạch Quốc B, sinh năm 1975, nơi cư trú: tổ E, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- - Nguyễn Đặng Kim A1, sinh ngày 16-8-2008, nơi cư trú: tổ E, khóm S, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Đặng Kim A1: Ông Nguyễn Hồng K, sinh năm 1983, nơi cư trú: tổ E, khóm S, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Đặng Kim A1: Bà Lê Hồ Bích H2, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm Trợ giúp Pháp lý nhà nước tỉnh A; (vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- - Bà Huỳnh Thanh T5, sinh năm 1976, nơi cư trú: khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- - Bà Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh năm 1982, nơi cư trú: tổ F, ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Phạm Thị Thu T2, sinh năm 1975, nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, tỉnh An Giang; (có mặt).
- - Phan Thị Lệ H3, sinh năm 1975, nơi cư trú: tổ E, khóm T, phường N, thị xã T, tỉnh An Giang; (văng mặt).
- - Nguyễn Nhạc P, sinh năm 2003, nơi cư trú: tổ A, ấp V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- - Nguyễn Thị Mỹ T3, sinh năm 2002, nơi cư trú: khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; (có mặt).
- - Trương Thị Thu H4, sinh năm 1990, nơi cư trú: khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt và có yêu cầu vắng mặt).
- - Trương Tố D1, sinh năm 1966, nơi cư trú: khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt và có yêu cầu vắng mặt).
- - Nguyễn Minh Đ3, sinh năm 1997, nơi cư trú: khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- - Bùi Tứ H5, sinh năm 1996, nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An
4
- Giang; (vắng mặt).
- - Phạm Thị Cẩm H, sinh năm 1984, nơi cư trú: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- - Trương Hồng D2, sinh năm 1976, nơi cư trú: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
- - Trần Văn N3, sinh năm 1978, nơi cư trú: tổ A, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; (có mặt).
- - Cao Văn C1, sinh năm 1980, nơi cư trú: tổ E, ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang; (vắng mặt).
Người làm chứng:
Cao Thị C2, sinh năm 1986; Trần Minh C3, sinh năm 1982; Đặng Thị N4, sinh năm 1982; Phạm Thanh G1, sinh năm 1983; (tất cả đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: trong khoảng thời gian từ ngày 03-02-2024 đến ngày 27-02-2024, Nguyễn Văn G, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Văn Đ1 và Nguyễn Ngọc Đ2 rủ nhau thực hiện 02 vụ “Cướp giật tài sản” và 01 vụ “Cướp tài sản” trên địa bàn thị xã T và huyện C, tỉnh An Giang, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Khoảng 18 giờ ngày 03-02-2024, V điều khiển xe mô tô biển số 67K1-621.13 chở G, Đ1 điều khiển xe mô tô (không nhớ biển số) chở Đ2 từ thành phố C đến thị xã T; khi đến Cây xăng “A Di Đà P1” thuộc tổ E, khóm P, phường A, thị xã T, thấy Thạch Bảo A đang điều khiển xe gắn máy biển số 67AE-024.00 chở Nguyễn Đặng Kim A1 ngồi phía sau cầm điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. V và Đ1 điều khiển xe mô tô chạy theo phía sau xe của Bảo A đến cua 13 thuộc tổ E, khóm P, phường A, thị xã T, quan sát thấy vắng người, Đ1 liền điều khiển xe mô tô chở Đ2 chạy lên phía trước chặn đầu xe của Bảo A, còn V điều khiển xe chở G chạy song song áp sát vào xe của Bảo A, G dùng chân đạp vào xe của Bảo A làm cho 02 xe ngã vào lề đường bên phải, Đ1 chở Đ2 dừng xe cách xe của V khoảng 07 mét để cảnh giới, G dùng tay đánh vào mặt của Bảo A nhiều cái, thấy Kim A1 bỏ chạy nên G chạy đuổi theo giật điện thoại Iphone 13 Pro Max của Kim A1, còn V đứng đối diện với Bảo A dùng tay trái giật sợi dây chuyền 18 kara trọng lượng 2,874 chỉ của Bảo A đang đeo trên cổ. V, G, Đ2 và Đ1 điều khiển xe mô tô tẩu thoát, V nhờ H6 (không rõ họ, địa chỉ) bán sợi dây chuyền được 6.700.000 đồng, V mang điện thoại Iphone 13 Pro Max bán cho 01 người không rõ họ tên ở cầu B, huyện C, tỉnh An Giang được 2.500.000 đồng, V chia cho G 4.500.000 đồng.
Vụ thứ hai:
Khoảng 14 giờ ngày 25-02-2024, V điều khiển xe mô tô (không nhớ rõ biển số) chở Đ1 trên đường L, tổ B, khóm X, phường T, thị xã T phát hiện bà Huỳnh Thanh T5 đang điều khiển xe đạp điện, trên cổ đeo sợi dây chuyền vàng 18 kara nên V và Đ1 nảy sinh ý định cướp giật sợi dây chuyền của
5
bà T5. V điều khiển xe mô tô chở Đ1 chạy theo phía sau xe của bà T5, khi đến nhà bà T5 thuộc tổ B, khóm X, phường T, thị xã T, bà T5 điều khiển chạy xe lên sân nhà dừng xe lại, cùng lúc này V dừng xe gần lề đường, cách xe của bà T5 khoảng 04 mét để cảnh giới, còn Đ1 xuống xe đi bộ lại chỗ bà T5 giả vờ hỏi đường, Đ1 liền giật sợi dây chuyền trên cổ bà T5 và nhanh chóng lên xe của V tẩu thoát, V điều khiển xe mô tô chở Đ1 đến tiệm V3 thuộc thị trấn V, huyện C bán sợi dây chuyền vừa chiếm đoạt được 5.600.000 đồng, Đ1 và V chia nhau tiền tiêu xài.
Vụ thứ ba:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27-02-2024, Đ1 điều khiển xe mô tô 67K1-621.13 chở G ngồi phía sau, khi đến khu vực ấp L, xã Ô, huyện C, Đ1 thấy chị Nguyễn Thị Mỹ L1 trên cổ đeo sợi dây chuyền vàng 18 kara đang nằm võng cùng con nhỏ gần lề đường nên Đ1 và G nảy sinh ý định cướp giật sợi dây chuyền của chị L1. Đ1 dừng xe cách chị L1 khoảng 02 mét để cảnh giới, G xuống xe đi bộ đến chỗ chị L1 giả vờ hỏi đường, rồi bất ngờ giật sợi dây chuyền trên cổ chị L1, chị L1 liền chụp tay của G và truy hô nên G chưa giật được sợi dây chuyền và nhanh chóng bỏ chạy lên xe của Đ1 tẩu thoát. Đ1 điều khiển xe chạy được khoảng 06 mét thì anh Cao Văn C1 (chồng chị L1) chạy đến đạp vào xe của Đ1, làm xe mô tô ngã xuống đường, G liền lấy con dao trong túi quần bên phải ra chống trả, tay trái của G gạt tay anh C1, mục đích không cho anh C1 bắt giữ G và Đ1, G dùng dao đâm 01 cái trúng vào vùng mặt của ông C1 gây thương tích, rồi G nắm tay Đ1 nhảy xuống sông tẩu thoát, bỏ lại xe mô tô 67K1 - 621.13, do Đ1 không biết bơi liền bơi vào bờ và bị người dân xung quanh bắt giữ, còn G bơi qua bờ sông bên kia tẩu thoát. Sau đó, G cũng bị người dân bắt giữ giao cho Cơ quan Công an xử lý.
Ngày 01-3-2024, V đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đầu thú. Ngày 03-3-2024, mời Đ2 làm việc, Đ2 khai nhận hành vi cướp dây chuyền và điện thoại của Bảo A và Kim A1 như trên.
Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô biển số 67K1-621.13, 01 biển số xe 67AD-076.43; 01 cái nón màu đen có chữ Paris; 01 nón bảo hiểm màu xanh (tạm giữ của Nguyễn Văn G và Nguyễn Văn Đ1); 01 cây dao dài 21 cm (phần kim loại dài 11 cm), cán dao bằng nhựa màu vàng dài 10 cm, tạm giữ tại hiện trường; 01 cây dao màu đen tổng chiều dài 20 cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 10 cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 10 cm, tạm giữ tại hiện trường.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 212/KL-HĐĐG.TTHS ngày 19-02-2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, xác định: 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 13 Promax, dung lượng 128 GB, màu sơn vàng gold, được định giá 15.000.000 đồng; 01 ốp lưng màu tím sử dụng cho Iphone 13 Promax, được định giá 20.000 đồng; 01 sợi dây chuyền đặc bằng vàng 18 kara (loại vàng 690), khối lượng vàng 2,874 chỉ, được định giá 12.070.000 đồng; 01 mặt dây chuyền bằng vàng 18 kara (loại vàng 690), khối lượng vàng 0.210 chỉ, được định giá 777.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 27.867.000 đồng.
6
Tại kết luận định giá tài sản số 322/KL-HĐĐG.TTHS ngày 01-3-2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, xác định: 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18 kara, khối lượng vàng 1,6 chỉ, được định giá 6.051.000 đồng; 01 mặt dây chuyền bằng vàng 18 kara, khối lượng vàng 1,4 chỉ, được định giá 5.294.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 11.345.000 đồng.
Tại kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG.TTHS ngày 04-3-2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, xác định: 01 sợi dây chuyền bằng vàng 18 kara, trọng lượng 02 chỉ, kiểu mắc xích, được định giá 7.980.000 đồng.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 263/24/KLTgTHS-TTPY ngày 4-2024, của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với Cao Văn C1, kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định: Sây sát da dạng phẳng phía đuôi mày phải dài 3,5cm, tỷ lệ là 0,5%, do vật sắc gây nên; sây sát da mặt sau 1/3 dưới cánh tay phải, kích thước (1,5 x 1,5)cm, tỷ lệ là 0,5%, do vật tày có bề mặt không nhẵn gây nên; sây sát da rải rác từ mặt sau 1/3 dưới cẳng tay phải đến mặt lưng bàn tay phải, tỷ lệ là 0,5%, do vật tày có bề mặt không nhẵn gây nên; sây sát da dạng mảng mặt trước 1/3 dưới đùi trái, kích thước (10 x 08)cm, tỷ lệ là 0,5%, do vật tày có bề mặt không nhẵn gây nên.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 02%.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Thạch Bảo A, Nguyễn Đặng Kim A1, đại diện hợp pháp của bị hại Bảo A, Kim A1, Huỳnh Thanh T5 xác nhận đã được gia đình bị cáo V bồi thường, nay không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì khác; bị hại Nguyễn Thị Mỹ L1 đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì khác.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Văn Đ1 và Nguyễn Ngọc Đ2 khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSTB-HS ngày 03-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Văn Đ1 về tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản” theo điểm d, e khoản 2 Điều 168 và điểm đ khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015); truy tố bị cáo Nguyễn Quốc V về tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản” theo điểm d, e khoản 2 Điều 168 và khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Đ2 về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa,
Các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố; các bị cáo khai do cần tiền tiêu xài nên cùng rủ nhau chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể:
7
- - Vụ thứ nhất: khoảng 18 giờ ngày 03-02-2024, V, G, Đ1, Đ2 điều khiển 02 xe mô tô khi gặp Bảo A điều khiển xe mô tô chở Kim A1 ngồi phía sau trên tay có cầm điện thoại nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, V điều khiển xe chở G chạy song song áp sát rồi G dùng chân đạp vào xe của Bảo A làm 02 xe cùng ngã vào lề đường, Đ1 chở Đ2 dừng cách xe của V khoảng 07m để cảnh giới, G dùng tay đánh nhiều cái vào mặt của Bảo A, thấy Kim A1 bỏ chạy nên G chạy theo giật điện thoại Iphone 13 Promax của Kim A1, V đứng đối diện dùng tay trái giật sợi dây chuyền 18kara của Bảo A đeo trên cổ rồi cùng nhau tẩu thoát.
- - Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 25-02-2024, V điều khiển xe mô tô chở Đ1 đến khu vực đường L thuộc tổ B, khóm X, phường T phát hiện bà Huỳnh Thanh T5 đang điều khiển xe đạp điện, trên cổ có đeo sợ dây chuyền vàng 18kara nên V, Đ1 nảy sinh ý định chiếm đoạt, khi bà T5 điều khiển xe chạy lên sân nhà rồi dừng lại, V dừng xe gần lề đường, cách xe bà T5 khoảng 04m để cảnh giới, Đ1 xuống xe đi lại chổ bà T5 giả vờ hỏi đường rồi dùng tay giật sợi dây chuyền trên cổ bà T5 và nhanh chóng lên xe của V để tẩu thoát.
- - Vụ thứ ba: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27-02-2024, Đ1 điều khiển xe mô tô 67K1-621.13 chở G, khi đến khu vực ấp L, xã Ô, huyện C thấy bà Nguyễn Thị Mỹ L1 đang nằm võng cùng con gái gần lề đường trên cổ có đeo sợi dây chuyền vàng 18kara nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Đ1 dừng xe cách chỗ chị L1 khoảng 02m để cảnh giới, G xuống xe đi bộ đến chỗ bà L1 giả vờ hỏi đường rồi bất ngờ giật sợi dây chuyền trên cổ bà L1, bà L1 liền chụp tay của G truy hô nên G chưa giật được và nhanh chóng bỏ chạy lên xe của Đại để tẩu thoát. Đ1 điều khiển xe chạy được khoảng 06m thì bị ông C1 chạy đến đạp vào xe của Đ1, G lấy con dao mang theo để trong túi quần bên phải ra chống trả, mục đích không bị bắt giữ; cùng lúc đó, G, Đ1, ông C1 cùng xe mô tô ngã xuống đường, G dùng dao đâm 01 nhát trúng vào vùng mặt của ông C1 gây thương tích; Giàu nắm tay Đ1 nhảy xuống sông tẩu thoát, bỏ lại xe mô tô 67K1-621.13, do Đ1 không biết bơi nên quay vào bờ và bị người dân xung quanh bắt giữ, G bơi qua sông tẩu thoát sau đó bị người dân bắt giữ giao Công an xử lý. G khai, không có sử dụng con dao khi giả vờ hỏi đường và giật dây chuyền của bà L1, chỉ đến khi ông C1 đạp xe, bị cáo mới sử dụng dao để chống trả nhằm mục đích tẩu thoát.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Thị Thu T2 xác định xe mô tô biển số 67K1-621.13 do bà là chủ sở hữu, khi V, G mượn xe mô tô không nói cho bà biết dùng làm phương tiện phạm tội nên có yêu cầu nhận lại xe. Các bị cáo tác động nên bà đã bồi thường cho Bảo A số tiền 34.000.000 đồng, bồi thường cho bà T5 số tiền 10.000.000 đồng, bà không yêu cầu các bị cáo hoàn trả đối với số tiền đã bồi thường cho các bị hại. Trước khi phiên tòa mở ra, bà N2 mẹ của bị cáo Đ1 có trả cho bà nhận số tiền 5.000.000 đồng để hỗ trợ bồi thường cho các bị hại.
Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
8
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168 và điểm đ khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 17; Điều 57; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Văn G từ 09 đến 10 năm tù về tội “Cướp tài sản” và từ 03 đến 04 năm tù về tội “ Cướp giật tài sản”. Áp dụng Điều 55 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo G.
- Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168 và điểm đ khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 57; Điều 58; Điều 91; khoản 2 Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Văn Đại từ 04 đến 05 năm tù về tội “Cướp tài sản” và từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “ Cướp giật tài sản”. Áp dụng Điều 55 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Đ1.
- Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168 và khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Quốc V từ 08 đến 09 năm tù về tội “Cướp tài sản” và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “ Cướp giật tài sản”. Áp dụng Điều 55 để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo V.
- Áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 2 Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Nguyễn Ngọc Đ2 từ 04 đến 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự, các bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không tiếp tục yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nên không đề cập xem xét.
Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 và 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 biển số 67AD-076.43, 01 nón bảo hiểm màu xanh, 01 nón màu đen, 01 cây dao màu đen tổng chiều dài 20cm và 01 cây dao dài 21cm là công cụ các bị cáo G, Đại sử dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
Giao trả cho bà Phạm Thị Thu T2 01 xe mô tô biển số 67K1-621.13 do bà T2 không có lỗi trong việc để cho bị cáo G, V sử dụng xe vào việc thực hiện tội phạm.
Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Văn Đại đồng Ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo điểm d, e khoản 2 Điều 168 và tội “Cướp giật tài sản” theo điểm đ khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015; thống nhất với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là lao động nghèo, phạm tội khi chưa đủ 15 tuổi, đã tác động mẹ bị cáo bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo mức hình phạt thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
9
Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Ngọc Đ2 đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo điểm d, e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015; thống nhất với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Đ2 không nhận được lợi ích gì từ việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo mức hình phạt thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Thẩm phán công bố quan điểm bảo vệ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Đặng Kim A1, bị hại không có yêu cầu các bị cáo bồi thường, thống nhất với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo.
Các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Ngọc Đ2, người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ1, Đ2 thống nhất với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác.
Bị cáo G, V; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân lương thiện và có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị hại Thạch Bảo A, Nguyễn Đặng Kim A1, Huỳnh Thanh T5, Nguyễn Thị Mỹ L1; người đại diện hợp pháp của bị hại Thạch Quốc B, Nguyễn Hồng K; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Đặng Kim A1 - bà Lê Hồ Bích H2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phan Thị Lệ H3, Nguyễn Nhạc P, Trương Thị Thu H4, Trương Tố D1, Nguyễn Minh Đ3, Bùi Tứ H5, Phạm Thị Cẩm H, Trương Hồng D2, Cao Văn C1; người, làm chứng Cao Thị C2, Trần Minh C3, Đặng Thị N4, Phạm Thanh G1 đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
10
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 18 giờ ngày 03-02-2024, tại đoạn đường Q gần cây xăng A2 thuộc tổ E, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang, các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Quốc V đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 67K1-621.13 áp sát xe mô tô của bị hại Thạch Bảo A, Nguyễn Đặng Kim A1, G dùng chân đạp vào xe của Bảo A làm 02 xe cùng ngã vào lề đường; cùng lúc đó, Nguyễn Văn Đ1 điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Ngọc Đ2 dừng cách xe của V, G khoảng 07 mét để cảnh giới; G dùng tay đánh nhiều cái vào mặt của Bảo A rồi dùng tay giật lấy điện thoại Iphone 13 Promax của Kim A1 đang cầm, V đứng đối diện dùng tay giật sợi dây chuyền Bảo A đang đeo trên cổ rồi cùng nhau tẩu thoát. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 27.867.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, V nhờ H6 (không rõ họ, địa chỉ) bán sợi dây chuyền được 6.700.000 đồng, V bán điện thoại Iphone 13 Promax cho một người không rõ họ tên ở cầu B, huyện C, tỉnh An Giang được 2.500.000 đồng, V chia cho G 4.500.000 đồng.
Khoảng 14 giờ ngày 25-02-2024, tại tổ B, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Văn Đ1 đã có hành vi điều khiển xe mô tô (không rõ biển số), V dừng xe gần lề đường để cảnh giới, Đ1 đi lại chỗ bị hại Huỳnh Thanh T5 giả vờ hỏi đường rồi dùng tay giật sợi dây chuyển trên cổ bà T5, nhanh chóng lên xe của V để cùng nhau tẩu thoát. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, V chở Đ1 đến tiệm V3 thuộc thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang bán sợi dây chuyền được 5.600.000 đồng, cùng nhau tiêu xài. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 11.345.000 đồng.
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27-02-2024, tại khu vực ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn G đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 67K1-621.13, Đ1 dừng xe bên lề đường để cảnh giới, G đi lại chỗ bị hại Nguyễn Thị Mỹ L1 đang nằm võng giả vờ hỏi đường rồi dùng tay giật sợi dây chuyền trên cổ bà L1 nhưng bị bà L1 chụp tay, truy hô nên chưa giật được và nhanh chóng lên xe của Đại để tẩu thoát thì bị ông Cao Văn C1 (chồng và L1) truy đuổi nên G dùng dao mang theo trong người chống trả và chém trúng vào vùng mặt của ông C1 gây thương tích 02%. Giá trị tài sản chiếm đoạt là 7.980.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Văn Đ1 đã phạm tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm và điểm đ khoản 2 Điều 171 có khung hình phạt tù từ 03 đến 10 năm tù (tội phạm rất nghiêm trọng) của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
11
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Quốc V đã phạm tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm và khoản 1 Điều 171 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù (tội phạm rất nghiêm trọng) của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Ngọc Đ2 đã phạm tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm (tội phạm rất nghiêm trọng).
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng; bên cạnh đó, còn có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Quốc V có nhân thân xấu; bị cáo G đã nhiều lần bị xét xử về các tội “Cố ý gây thương tích”, “Cướp tài sản”, “Cướp giật tài sản”, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị cáo V đã bị xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Ngọc Đ2 trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án.
Đây là vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ, phân công cụ thể khi thực hiện tội phạm; các bị cáo đều là người trực tiếp, cảnh giới, giúp sức tích cực cho nhau khi thực hiện tội phạm. Hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích của tội phạm là dùng hung khí nguy hiểm, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để tấn công bị hại, làm bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt được tài sản và công khai, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 24-01-2022, Toà án nhân dân huyện (nay là thị xã T), tỉnh An Giang xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giạt tài sản”, đến ngày 27-3-2023, chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xoá án tích. Do đó, bị cáo G phải chịu tình tiết “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo V đầu thú, các bị cáo G, V, Đ1, Đ2 đã tác động gia đình bị cáo V bồi thường thiệt hại về tài sản cho các bị hại; bị hại Thạch Bảo A, Nguyễn Đặng Kim A1, Huỳnh Thanh T5 có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V2. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy:
12
Trước khi phạm tội các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Ngọc Đ2 là người có nhân thân tốt. Tại thời điểm phạm tội ngày 03-02-2024, ngày 25-02-2024 và ngày 27-02-2024, bị cáo Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 06-4-2009 và bị cáo Nguyễn Ngọc Đ2, sinh ngày 21-6-2008 là người dưới 18 tuổi; do đó, Hội đồng xét xử áp dụng chế định người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Ngọc Đ2 khi lượng hình. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản và theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Xét thấy, các bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt, nay không yêu cầu bồi thường gì khác, do dó Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết tiếp.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - 01 cây dao màu đen tổng chiều dài 20cm; 01 nón bảo hiểm màu xanh; 01 nón màu đen; 01 biển số xe 67AD-076.43 và 01 cây dao dài 21cm đã thu giữ trong vụ án là công cụ được các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Bà Phạm Thị Thu T2 là người quản lý hợp pháp đối với xe mô tô biển số 67K1-621.13, bà T2 không có lỗi trong việc để cho bị cáo G và V sử dụng xe mô tô vào việc thực hiện tội phạm và có yêu cầu nhận lại xe nên cần trả lại cho bà Phạm Thị Thu T2 xe mô tô biển số 67K1-621.13.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Quốc V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Ngọc Đ2 là trẻ em và có yêu cầu đề nghị miễn án phí nên thuộc trường hợp miễn án phí.
Các bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Ngọc Đ2; bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại Thạch Bảo A, Nguyễn Đặng Kim A1; người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Ngọc Đ2; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Đặng Kim A1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
13
[9] Về các vấn đề khác:
Ngày 25-02-2024, Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 04-6-2009 cùng Nguyễn Quốc V thực hiện hành vi cướp giật 01 sợi dây chuyền và 01 mặt dây chuyền vàng trị giá 11.345.000 đồng của bà Huỳnh Thanh T5 là vi phạm pháp luật; tuy nhiên, tại thời điểm phạm tội Đ1 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không quy kết trách nhiệm hình sự đối với Đ1 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với ông Trương Tố D1 khi mua sợi dây chuyền vàng 18 kara của bị cáo Nguyễn Văn Đ1 thì không biết sợi dây chuyền do Đ1 phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không quy kết trách nhiệm đối với ông D1 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với bà Phạm Thị Thu T2 (mẹ ruột của bị cáo V) là người quản lý hợp pháp đối với xe mô tô 67K1-621.13, bà T2 không biết việc bị cáo G và V sử dụng xe mô tô 67K1-621.13 làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không quy kết trách nhiệm đối với bà T2 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Đối với lời khai của bị hại bà Nguyễn Thị Mỹ L1 về việc trước lúc dùng tay trái giật sợi dây chuyền thì tay phải của bị cáo Giàu C4 cầm dao đưa về phía bà L1, lời khai của bà L1 không được bị cáo G thừa nhận; bên cạnh đó, ngoài lời khai của bà L1 thì không còn tài liệu, chứng cứ chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo G, Đ1 về hành vi “Cướp tài sản” vào ngày 27-02-2024 là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
Đối với việc bị cáo G gây thương tích cho ông Cao Văn C1 với tỷ lệ thương tích 02% là vi phạm pháp luật; ông C1 có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với G nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T không quy kết trách nhiệm đối với bị cáo G là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm đ khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 17; Điều 57; Điều 58; Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn G (Giàu M) 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”; 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 27-02-2024.
2. Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: bị cáo Nguyễn Quốc V (T1) 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”; 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
14
Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01-3-2024.
3. Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm đ khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 17; Điều 57; Điều 58; Điều 55; Điều 91; khoản 2 Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Đ1 (L) 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”; 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 27-02-2024.
4. Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 2 Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Nguyễn Ngọc Đ2 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 03-3-2024.
5. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) biển số 67AD-076.43; 01 (một) cây dao màu đen tổng chiều dài 20cm; 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh; 01 (một) nón màu đen và 01 (một) cây dao dài 21cm (phần kim loại dài 11 cm).
- - Giao trả cho bà Phạm Thị Thu T2: 01 (một) xe mô tô biển số 67K1-621.13, nhãn hiệu: Honda, màu sơn: xám.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên).
6. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Quốc V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Ngọc Đ2 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
15
Các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Quốc V, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Ngọc Đ2; người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Ngọc Đ2; người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Ngọc Đ2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phạm Thị Thu T2, Nguyễn Thị Mỹ T3, Trần Văn N3 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Thời hạn kháng cáo của các bị hại Thạch Bảo A, Nguyễn Đặng Kim A1, Huỳnh Thanh T5, Nguyễn Thị Mỹ L1; người đại diện hợp pháp của bị hại Thạch Quốc B, Nguyễn Hồng K; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Đặng Kim A1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phan Thị Lệ H3, Nguyễn Nhạc P, Trương Thị Thu H4, Trương Tố D1, Nguyễn Minh Đ3, Bùi Tứ H5, Phạm Thị Cẩm H, Trương Hồng D2, Cao Văn C1 vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phí Thị Phương Nhung |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về cướp tài sản và cướp giật tài sản
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản và Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS Giàu, Vương, Đại, Đạt - CTS, CGTS
