Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 51/2024/HS - ST

Ngày: 13/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Khánh Thành.

2. Ông Nguyễn Việt Hưng.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thành Công, Thẩm tra viên TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt, Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST - HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phạm Công D, sinh ngày 08/02/1978; Giới tính: Nam;
  2. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe. Con ông: Phạm Công T, sinh năm 1950; Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1951. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 04. Vợ: Quyền Thị V, sinh năm 1987; Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2017;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Phạm Văn T2, sinh ngày: 07/02/1983; Giới tính: Nam;
  4. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: TDP C, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Phạm Văn T3, sinh năm 1956; Con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1957. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2. Vợ: Phạm Thị D1, sinh năm 1992; Con: Có 01 con, sinh năm 2011.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Đ. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có QLNVLQ: Chị Đàm Thị P, sinh năm 1979. Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1985. Trú tại: xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Anh Chu Hà G, sinh năm 1990. Trú tại: TT H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Chị Đặng Thị Đ, sinh năm 2001. Trú tại: xóm P, xã N, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Chị Đặng Thị H, sinh năm 1992. Trú tại: xóm B (nay là xóm N), xã Y, huyện B, tỉnh Cao Bằng; chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1990. Trú tại: Thôn Y, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt chị Đ, còn lại đều vắng mặt);

* Người chứng kiến: Ông Vũ Văn C1, sinh năm 1968 (Vắng mặt);

Địa chỉ: TDP C, TT H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 05 phút ngày 29/11/2023 Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nhận được tin báo tại quán K2 thuộc TDP C, thị trấn H, huyện Đ (do chị Đàm Thị P, sinh năm 1978, trú tại xóm T, xã T làm chủ) có một số đối tượng tụ tập có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra thì phát hiện tại phòng hát VIP 1 có một số đối tượng đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Phạm Công D, sinh năm 1978, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Văn B, sinh năm 1985, trú tại xóm Đ, xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Chu Hà G, sinh năm 1990, trú tại TDP C, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Đặng Thị Đ, sinh năm 2001, trú tại xóm P, xã N, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Đặng Thị H, sinh năm 1995, trú tại xóm B, xã Y, huyện B, tỉnh Cao BằngNguyễn Thị Q1, sinh năm 1990, trú tại thôn Y, xã P, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng trong phòng hát gồm: 04 bật lửa ga màu đỏ; 01 gói giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh) bên trong có 01 túi nilong màu trắng, bên trong túi nilong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu A); 01 túi nilong có nhiều màu sắc, bên trong có 02 viên nén màu trắng nghi là ma túy tổng hợp dạng kẹo (niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu B); 01 đĩa sứ màu trắng có bám dính chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 5000đ được quấn lại thành ống hút; 01 túi nilong màu nâu (loại túi hút ẩm) được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu C) và 01 túi nilong màu trắng (loại túi ZIP) bên trong có bám dính chất rắn dạng tinh thể màu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu D).

Các đối tượng có liên quan khai nhận vừa sử dụng chất ma túy, Phạm Công D là người cung cấp chất ma túy để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng và đưa các đối tượng về Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ các tài liệu xác minh, hồi 09 giờ 20 ngày 01/12/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Công D, kết quả khám xét không thu giữ gì.

Hồi 21 giờ 50 phút ngày 30/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K3 Công an tỉnh T tiến hành cân xác định khối lượng chất rắn và 02 viên nén thu giữ tại phòng hát VIP 1 của quán K2. Kết quả như sau:

Số chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A có khối lượng là 0,416 gam (được niêm phong vào phong bì ký hiệu A1 gửi giám định); 02 viên nén màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu B có khối lượng 0,668 gam (được niêm phong vào phong bì ký hiệu B2 gửi giám định);

Tại Bản Kết luận giám định số 1317 ngày 08/12/2023 của Phòng K3, Công an tỉnh T, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại ketamine, có khối lượng là 0,416 gam; 02 viên nén màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu B1 gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA, có khối lượng là 0,668 gam.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ phối hợp với Trạm Y tế thị trấn H tiến hành kiểm tra nước tiểu xác định: Phạm Công D dương tính với chất ma túy tổng hợp dạng KET; Chu Hà G, Nguyễn Văn B dương tính với chất ma túy tổng hợp dạng MDMA, MET, KET; Nguyễn Thị Q dương tính với chất ma túy tổng hợp dạng Methamphetamine; Nguyễn Thị H1 dương tính với chất ma túy tổng hợp dạng MDMA, MET; Phạm Văn T2Đặng Thị Đ âm tính với chất ma túy.

Ngày 30/11/2023 Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu của T2 và Trưng cầu giám định độc chất trong nước tiểu đối với T2. Tại Kết luận giám định độc chất số 59 ngày 18/12/2023 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh T, kết luận. Trong mẫu nước tiểu của Phạm Văn T2 có tìm thấy KM.

Tại cơ quan điều tra Phạm Công D, Phạm Văn T2 và các đối tượng khác cùng khai nhận như sau: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 29/11/2023 D, T2Nguyễn Văn B, Chu Hà G, Nguyễn Văn H2, sinh năm 1992, trú tại xóm C, xã P, Trần Văn M1, sinh năm 1990, trú tại xóm A, xã V, Nguyễn Văn M2, sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố X, thị trấn H đến quán K2 tại TDP C, thị trấn H, huyện Đ để hát. Khi đến quán H3 thì thuê phòng hát VIP 1 rồi D gọi thêm 03 nhân viên của quán vào rót bia gồm Đặng Thị Đ, Đặng Thị H, Nguyễn Thị Q (khi bị bắt ban đầu Q khai tên là Q1). Hát được một lúc thì Trần Văn M1, Nguyễn Văn M2Nguyễn Văn H2 đi về trước. Lúc này, D nảy sinh ý định mua chất ma túy về để D và những người trong phòng hát sử dụng. D đi ra ngoài phòng hát và dùng điện thoại di động của mình gọi điện thoại cho Trương Trung K1, sinh năm 1987, trú tại xóm A, xã C, huyện Đ (hay còn gọi là Kiên T4) để mua chất ma túy thì K1 đồng ý và bảo với D một lúc sau sẽ có người mang chất ma túy đến. Một lúc sau có một nam thanh niên đi xe mô tô đến gặp D và đưa cho D 01 túi nilong nhiều màu bên trong có 03 viên ma túy tổng hợp dạng kẹo và 01 gói giấy vệ sinh bên trong có 02 túi nilong màu trắng chứa ma túy tổng hợp dạng Ketamine. D cầm chất ma túy đi vào phòng hát thì K1 nhắn tin đến ứng dụng Zalo của D thông báo số tài khoản ngân hàng của K1 và số tiền mua chất ma túy hết 3.750.000đ. D hẹn K1 ngày hôm sau sẽ chuyển khoản thanh toán cho K1. Sau đó, D lấy 01 viên ma túy dạng kẹo ra cho vào cốc nước cocacola để sử dụng và mời H, Đ, Q uống cốc nước có chứa chất ma túy thì HQ sử dụng, còn Đ không sử dụng, sau đó D tự sử dụng rồi để cốc nước chứa chất ma túy trên bàn để mọi người trong phòng tự ý sử dụng. Sau đó D lấy gói ma túy tổng hợp dạnh Ketamine và 01 tờ tiền mệnh giá 5.000đ đưa cho T2, T2 đổ toàn bộ số Ketamine ra tờ tiền rồi dùng bật lửa hơ nóng Ketamine (gọi là xào ke) và dùng lon nước ngọt nghiền nhỏ Ketamine ra rồi đưa cho D, G, B sử dụng bằng hình thức hít vào mũi qua 01 ống hút được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 5000đ (không xác định được ai là người quấn). Sau khi sử dụng Ketamine xong, D đi ra ngoài lấy 01 đĩa sứ mang vào phòng hát thì T2 lấy số Ketamine còn lại đổ ra đĩa và nhặt 01 gói chống ẩm trên mặt bàn, đồng thời kẻ 01 đường ke cho G sử dụng, sau đó T2 tự kẻ một đường và sử dụng cho bản thân. Khoảng 5 phút sau thì T2 ra về trước. Các đối tượng D, G, B, H, Đ, Q tiếp tục hát đến khoảng 23 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Tô công tác, Công an huyện Đ phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Vật chứng của vụ án gồm: 08 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2, B1, B2, C, D, E1, F1; 04 bật lửa ga màu đỏ. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKSĐT ngày 25/4/2024, VKS nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Phạm Công D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS; bị cáo Phạm Văn T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKS giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị HĐXX. Tuyên bố: Phạm Công D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Phạm Văn T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38 BLHS đối với bị cáo D, T2; Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với bị cáo D. Xử phạt: bị cáo Phạm Công D từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: bị cáo Phạm Văn T2 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Miễn Hình Phạt bổ sung cho các bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không tham gia tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Nói lời sau cùng: đều xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những tài liệu chứng cứ khác ...

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; VKS nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2]. Xét hành vi của các bị cáo, thấy: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Công DPhạm Văn T2 khai nhận: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 29/11/2023 tại quán K2 thuộc TDP C, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (do chị Đàm Thị P làm chủ). Phạm Công D đã thực hiện hành vi tìm mua chất ma túy tổng hợp dạng MDMA và Ketamine; sau khi có ma túy D tự hòa tan một phần chất ma túy loại MDMA cùng với cốc nước để sử dụng cho bản thân và cho Đặng Thị H, Nguyễn Thị Q sử dụng bằng cách uống. Tiếp theo D đưa cho Phạm Văn T2 01 gói chất ma túy loại Ketamine, 01 tờ tiền mệnh giá 5000đ, T2 đã thực hiện hành vi lấy chất ma túy loại Ketamine của D đưa rồi đổ ra tờ tiền mệnh giá 5.000đ, dùng bật lửa ga hơ nóng (xào ke) rồi cho D, Nguyễn Văn B, Chu Hà G sử dụng bằng hình thức hít. Tiếp đến, D đi ra khu vực gian bếp của quán Karaoke lấy 01 đĩa sứ để T2 đổ chất ma túy loại Ketamine ra đĩa rồi T2 dùng gói hút ẩm có sẵn trên mặt bàn để “xào ke” mời G sử dụng và T2 tự sử dụng cho bản thân. Khi một số đối tượng vẫn đang sử dụng chất ma túy thì bị Tổ công tác, Công an huyện Đ phát hiện, thu giữ 0,416 gam chất ma túy loại Ketamine và 0,668gam chất ma túy lại MDMA, D khai để sử dụng. Tổ công tác, Công an huyện Đ đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như: biên bản sự việc, khám nghiệm hiện trường; lời khai của những người làm chứng; người chứng kiến; vật chứng thu giữ; kết luận giám định ... Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Công D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Văn T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng truy tố và quan điểm đề nghị tại phiên tòa của VKSND huyện Đại Từ đối với các bị cáo là phù hợp và có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sư quy định:

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Người nào phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...b. Đối với 02 người trở lên; ...;

Nội dung điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sư quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

i. Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.

[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo: tính chất của vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và nghiêm trọng. Trong vụ án này, bị cáo D là người tự tìm mua ma túy về cho các đối tượng khi tham gia hát cùng sử dụng; bị cáo T2 là người giúp sức trong việc pha chế ma túy cho một số đối tượng khi tham gia hát sử dụng nên các bị cáo đều có vai trò đồng phạm là người thực hiện về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo D phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, cả 02 bị cáo đều có bố hoặc mẹ đẻ được tặng thưởng huân chương kháng chiến nên đều được thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5]. Xét nhân thân của bị cáo: các bị cáo đều là những người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; đều xuất thân từ gia đình lao động, được nuôi ăn học, có đầy đủ nhận thức các việc làm đúng sai của bản thân. Tuy nhiên, do ăn chơi đua đòi nên các bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

[6]. Về hình phạt: Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. HĐXX thấy, các bị cáo đều là những người có nhân thân tốt, đều chưa có tiền án, tiền sự và đều có 02 tình tiết giảm nhẹ; Mặc dù tính chất phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng và rất nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất giản đơn, chủ yếu là do ăn chơi, đua đòi; sau khi phạm tội có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, khi lượng hình HĐXX cần cân nhắc, xem xét để có mức hình phạt tù cho phù hợp, vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, vừa đảm bảo việc dăn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy, không cần thiết áp dụng đối với các bị cáo.

[7]. Về vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự có liên quan:

  • + 08 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2, B1, B2, C, D, E1, F1; 04 bật lửa ga màu đỏ. Xác định các phong bì ký hiệu A1, A2, B1, B2, C, D, F1 và 04 bật lửa ga màu đỏ đều là vật chứng vụ án, được tịch thu tiêu hủy; phong bì ký hiệu E1 là phong bì niêm phong chiếc điện thoại OPPO thu giữ của D, dùng để giao dịch mua bán ma túy với K1, cần được tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • + 01 tờ tiền mệnh giá 5000đ đã được cuốn thành ống hút, được niêm phong cùng trong phong bì ký hiệu C, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[8]. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí HSST sung quỹ Nhà nước.

[9]. Các nội dung có liên quan khác:

Về nguồn gốc chất ma túy loại MDMA và Ketamine, Phạm Công D khai mua của Trương Trung K1, sinh năm 1987, trú tại xóm B, xã C, huyện Đ. Cơ quan điều tra đã triệu tập K1 đến làm việc nhưng K1 hiện vắng mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm đối với K1 và tiếp tục làm rõ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của K1, nếu có căn cứ sẽ xử lý bằng một vụ án khác.

Ngoài ra, tại giai đoạn điều tra bị cáo D có khai nhận, khi cho KẸO vào cốc nước thì được một nhân viên nữ (D không nhớ mặt và không xác định được họ, tên, tuổi) giúp sức trong việc nghiền KẸO cho vào cốc nước; tuy nhiên, tại giai đoạn truy tố và tại phiên tòa, bị cáo xác định do chính bị cáo là người tự thực hiện nên không cần thiết phải yêu cầu làm rõ nội dung này.

Liên quan trong vụ án, chị Đàm Thị P là chủ quán K2, quá trình điều tra xác định chị P không biết, không đồng phạm với các đối tượng có hành vi tổ chức sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị P. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn B, Chu Hà G, Đặng Thị H, Nguyễn Thị Q do hành vi không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B, G. Còn đối với H, Q hiện vắng mặt tại địa phương nên chưa lập được biên bản vi phạm hành chính để xử lý. Công an huyện Đ sẽ tiếp tục truy tìm để xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Phạm Công D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Phạm Văn T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  1. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 55 và Điều 38 BLHS;
  2. Xử phạt: bị cáo Phạm Công D 07 (bẩy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp, buộc bị cáo Phạm Công D phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 (hai) tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 01/12/2023.

    • + Áp dụng: Điều 329 BLTTHS quyết định tạm giam bị cáo D 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
    • + Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Phạm Công D.
  3. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 BLHS;
  4. Xử phạt: bị cáo Phạm Văn T2 07 (bẩy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 01/12/2023.

    • + Áp dụng: Điều 329 BLTTHS quyết định tạm giam bị cáo T2 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
    • + Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Phạm Văn T2.

* Về Vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS.

  • + Tịch thu tiêu hủy: 07 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2, B1, B2, C (trừ 01 tờ tiền mệnh giá 5000đ), D, F1 và 04 bật lửa ga màu đỏ.
  • + Tịch thu sung quỹ: 01 tờ tiền mệnh giá 5000đ sử dụng làm ống hút được niêm phong cùng trong phong bì ký hiệu C và 01 chiếc điện thoại di động OPPO thu giữ của D được niêm phong trong phong bì ký hiệu E1.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong quyết định chuyển vật chứng số 52/QĐ - VKSĐT ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật án phí lệ phí; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo D, T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST sung quỹ nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo, người có QLNVLQ biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt và kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định đối với người vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS tỉnh; Sở tư pháp tỉnh;
  • - Công an, VKS huyện Đại Từ;
  • - THADS + THAHS Đại Từ;
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - UBND xã Tiên Hội, TT Hùng Sơn;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

THAY MẶT. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HS - ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự

  • Số bản án: 51/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Công D + đồng phạm: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger