|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST |
|
|
Ngày 13/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương Giang
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thảo và ông Vương Minh Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Chi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như N - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST- HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST- HS ngày 03/6/2024, đối với các bị cáo:
- Hoàng Lê M, sinh ngày 31/7/1981 tại thành phố T;
Cư trú tại: Tổ dân phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Giáo viên;
Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đ2, hiện đang công tác tại Chi bộ Trường Tiểu học B thuộc Đảng bộ phường T, thành phố T (Đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 119-QĐ/UBKT ngày 09/5/2024 của Ủy ban kiểm tra Thành ủy T1);
Con ông: Hoàng Lê Đ (Đã chết) và bà: Đào Thị N1 (Sinh năm 1953);
Có vợ là: Kim Thị Mai V (Sinh năm 1985) và có 02 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2016);
Tiền án; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 17/01/2002 UBND xã H (nay là phường H), thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 7120/QĐ-XPVPHC về hành vi đánh nhau, vi phạm trật tự công cộng, bằng hình thức phạt tiền (số tiền 125.000 đồng, bị cáo đã nộp phạt ngày 28/01/2002).
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà.
1
- Đào Thùy L; sinh ngày 02/5/1991 tại thành phố T;
Cư trú tại: Tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không;
Con ông: Đào Mạnh C (sinh năm 1960) và bà: Nguyễn Thanh N2 (sinh năm 1966);
Có chồng là: Lưu Anh Đ1 (sinh năm 1984) và có 03 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2024);
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Triệu Thị T, sinh năm 1975; cư trú tại tổ dân phố A, phường M, thành phố T; vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Hoàng Y, sinh năm 1983; cư trú tại tổ dân phố A, phường P, thành phố T; vắng mặt.
- + Anh La Văn N3, sinh năm 1979; cư trú tại tổ dân phố G, phường T, thành phố T; vắng mặt.
- + Chị Ứng Lan H, sinh năm 1984; cư trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T; có mặt.
- + Anh Vũ Trung K, sinh năm 1974; cư trú tại tổ dân phố F, phường A, thành phố T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2020 đến năm 2023, bị cáo Hoàng Lê M đã sử dụng số tiền 180.000.000 đồng ban đầu để quay vòng cho nhiều người vay với tổng số tiền là 310.000.000 đồng, với lãi suất cao 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất cho phép quy định của Bộ luật Dân sự (là 20%/01 năm), mục đích để thu lợi nhuận. Trong đó, từ ngày 29/5/2022 đến ngày 08/02/2023, bị cáo M được bị cáo Đào Thùy L giúp sức để bị cáo M cho 01 người vay tiền với lãi suất cao, cụ thể như sau:
- Cho chị Triệu Thị T, trú tại Tổ dân phố A, phường M, thành phố T vay 01 lần:
Ngày 06/7/2020, bị cáo M cho chị T vay số tiền gốc 20.000.000 đồng (có viết giấy vay tiền nhưng không ghi lãi suất và để lại 01 sổ bảo hiểm xã hội của chị T), hai bên thoả thuận trả tiền lãi theo tháng là 1.800.000 đồng/tháng. Từ 06/7/2020 đến ngày 22/12/2022 là 29 tháng 17 ngày (vì điều kiện kinh tế khó khăn, bị cáo M cho chị T 01 tháng tiền lãi từ ngày 06/12/2022 đến ngày 06/01/2023 là 1.800.000 đồng), do đó số tiền lãi chị T phải trả cho bị cáo M là 40 tháng 17 ngày theo thoả thuận là 73.020.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp là 13.336.986 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 59.683.014 đồng. Chị T trả lãi thực tế là 59.400.000 đồng/73.020.000 đồng tiền lãi
2
theo thoả thuận, hiện chị T còn nợ 13.620.000 đồng lãi và 20.000.000 đồng tiền gốc.
- Cho chị Nguyễn Hoàng Y, trú tại tổ dân phố A, phường P, thành phố T vay 01 lần:
- Cho anh La Văn N3, trú tại tổ dân phố G, phường T, thành phố T vay 03 lần:
- Cho chị Ứng Lan H, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T vay 01 lần:
Ngày 21/5/2021, bị cáo M cho chị Y vay số tiền gốc 20.000.000 đồng, thoả thuận trả tiền lãi theo tháng là 1.800.000 đồng/tháng. Từ 21/5/2021 đến ngày 21/7/2022 (14 tháng), chị Y trả tiền lãi cho bị cáo M là 25.200.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp là 4.602.740 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 20.597.260 đồng. Ngày 20/7/2022, chị Y đã trả số tiền gốc 20.000.000 đồng cho bị cáo M.
Lần 1: Ngày 01/02/2021, bị cáo M cho anh N3 vay số tiền gốc 20.000.000 đồng, thoả thuận trả tiền lãi theo tháng là 1.800.000 đồng/tháng. Từ ngày 01/02/2021 đến ngày 01/3/2021 (01 tháng), anh N3 trả tiền lãi cho bị cáo M là 1.800.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp là 328.767 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 1.471.233 đồng. Hiện anh N3 đã trả số tiền gốc 20.000.000 đồng cho bị cáo M.
Lần 2: Ngày 30/6/2021, bị cáo M cho anh N3 vay số tiền gốc 10.000.000 đồng, thoả thuận trả tiền lãi theo tháng là 900.000 đồng/tháng. Từ ngày 30/6/2021 đến ngày 30/01/2022 (07 tháng), anh N3 trả tiền lãi cho bị cáo M là 6.300.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp là 1.150.685 đồng; số tiền lãi thu trái pháp luật là 5.149.315 đồng. Ngày 31/12/2021, anh N3 trả số tiền gốc 10.000.000 đồng cho bị cáo M.
Lần 3: Ngày 31/3/2022, bị cáo M cho anh N3 vay số tiền gốc 20.000.000 đồng, thoả thuận trả tiền lãi theo tháng là 1.800.000 đồng/tháng. Từ ngày 31/3/2022 đến ngày 30/5/2023 (14 tháng), anh N3 trả tiền lãi cho bị cáo M là 25.200.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp là 4.602.740 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 20.597.260 đồng. Số tiền gốc 20.000.000 đồng, bị cáo M cho anh N3 nợ lại nhưng không thu lãi, ngày 06/11/2023, anh N3 trả số tiền gốc 20.000.000 đồng cho bị cáo M.
Như vậy, bị cáo M cho anh N3 vay tiền 03 lần với số tiền gốc là 50.000.000 đồng, thu tiền lãi 33.300.000 đồng, trong đó: Tiền lãi hợp pháp là 6.082.192 đồng, tiền lãi thu lời bất chính là 27.217.808 đồng. Anh N3 trả cho bị cáo M số tiền gốc 50.000.000 đồng.
Ngày 29/5/2022, thông qua bị cáo Đào Thùy L, bị cáo Hoàng Lê M cho chị Ứng Lan H vay số tiền gốc 100.000.000 đồng (Bị cáo M thỏa thuận với bị cáo L là người trực tiếp đứng ra giúp bị cáo M chuyển số tiền gốc cho chị H vay và thu tiền lãi, tiền gốc từ chị H về cho bị cáo M, bị cáo L không được hưởng lợi gì), các bên thoả thuận trả tiền lãi theo tháng là 9.000.000 đồng/tháng. Đến ngày 29/6/2022, chị H trả tiền lãi 01 tháng cho bị cáo M (thông qua bị cáo L) là 9.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi hợp pháp là 1.643.836 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 7.356.164 đồng.
Ngày 30/6/2022, chị H trả số tiền gốc 50.000.000 đồng cho bị cáo M, chị H nợ lại số tiền gốc 50.000.000 đồng, bị cáo M tiếp tục tính lãi số tiền này, trả tiền lãi 4.500.000 đồng/tháng. Từ ngày 30/6/2022 đến ngày 29/01/2023 (07 tháng), chị H trả tiền lãi cho bị cáo M (thông qua bị cáo L) là 31.500.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp
3
pháp là 5.753.425 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 25.746.575 đồng. Từ 30/01/2023 trở đi, số tiền gốc bị cáo M cho chị H nợ lại và không thu tiền lãi. Ngày 08/02/2023, chị H đã trả số tiền gốc 50.000.000 đồng gốc cho bị cáo M.
Như vậy, tổng số tiền lãi chị Ứng Lan H trả cho bị cáo M (thông qua bị cáo L) là 40.500.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp là 7.397.260 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 33.102.740 đồng. Bị cáo M thu lời bất chính số tiền 33.102.740 đồng.
- Cho anh Vũ Trung K, trú tại tổ dân phố F, phường A, thành phố T vay 04 lần:
Lần 1: Ngày 23/10/2022, bị cáo M cho anh K vay số tiền gốc 20.000.000 đồng, trả tiền lãi theo tháng là 1.800.000 đồng/tháng. Từ ngày 23/10/2022 đến ngày 23/02/2023 (04 tháng), anh K trả tiền lãi cho bị cáo M là 7.200.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp là 1.315.068 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 5.884.932 đồng, anh K chưa trả khoản tiền gốc vay 20.000.000 đồng cho bị cáo M.
Lần 2: Ngày 23/02/2023, bị cáo M tiếp tục cho anh K vay thêm số tiền gốc 50.000.000 đồng, cộng với số tiền nợ cũ chưa trả là 20.000.000 đồng, thành khoản vay mới là 70.000.000 đồng, thoả thuận trả tiền lãi theo tháng là 6.300.000 đồng/tháng. Từ ngày 23/02/2023 đến ngày 10/6/2023 (03 tháng 18 ngày), anh K trả tiền lãi cho bị cáo M là 22.680.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp là 4.142.466 đồng, số tiền lãi thu trái pháp luật là 18.537.534 đồng, anh K đã trả được số tiền gốc 50.000.000 đồng cho bị cáo M.
Từ ngày 10/6/2023 trở đi, bị cáo M tiếp tục tính lãi số tiền gốc 20.000.000 đồng mà anh K nợ với lãi suất như thỏa thuận ban đầu, trả tiền lãi 1.800.000 đồng/tháng. Từ ngày 10/6/2023 đến ngày 29/9/2023 (03 tháng 19 ngày), anh K trả tiền lãi ngày cho bị cáo M là 6.540.000 đồng; trong đó số tiền lãi hợp pháp là 1.194.521 đồng, số tiền thu trái pháp luật là 5.345.479 đồng, anh K còn nợ số tiền gốc 20.000.000 đồng của bị cáo M.
Lần 3: Ngày 29/9/2023, bị cáo M tiếp tục cho anh K vay thêm số tiền gốc 30.000.000 đồng, cộng với số tiền nợ cũ 20.000.000 đồng, thành khoản vay mới là 50.000.000 đồng, trả tiền lãi theo tháng là 4.500.000 đồng/tháng. Từ ngày 29/9/2023 đến ngày 29/10/2023 (01 tháng), anh K trả tiền lãi cho bị cáo M là 4.500.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp là 821.918 đồng, số tiền lãi thu trái pháp luật là 3.678.082 đồng; anh K vẫn nợ số tiền gốc 50.000.000 đồng của bị cáo M.
Lần 4: Ngày 29/10/2023, bị cáo M tiếp tục cho anh K vay thêm số tiền gốc 20.000.000 đồng, cộng với số tiền nợ cũ 50.000.000 đồng, thành khoản vay mới là 70.000.000 đồng, trả tiền lãi theo tháng là 6.300.000 đồng/tháng. Từ ngày 29/10/2023 đến ngày 22/12/2023 (01 tháng 24 ngày), anh K phải trả tiền lãi theo thỏa thuận là 11.340.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp là 2.071.233 đồng, số tiền lãi thu trái pháp luật là 9.268.767 đồng. Anh K trả thực tế được 6.300.000 đồng/11.340.000 đồng tiền lãi, chưa trả 5.040.000 đồng lãi và nợ số tiền gốc 70.000.000 đồng của bị cáo.
Như vậy, bị cáo M cho anh K vay 04 lần là 120.000.000 đồng. Số tiền lãi theo thỏa thuận anh K phải trả cho bị cáo M là 52.260.000 đồng, trong đó: Tiền lãi hợp pháp là 9.545.206 đồng, tiền lãi thu trái pháp luật là 42.714.794 đồng. Anh K đã trả thực tế được 47.220.000 đồng/52.260.000 đồng tiền lãi theo thoả thuận; còn nợ lại
4
5.040.000 đồng lãi và 70.000.000 đồng tiền gốc. Bị cáo M thu lời bất chính số tiền 42.714.794 đồng.
Như vậy, từ ngày 06/7/2020 đến ngày 22/12/2023, bị cáo Hoàng Lê M sử dụng số tiền gốc 180.000.000 đồng ban đầu quay vòng cho 05 người vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với tổng số tiền là 310.000.000 đồng, thu tổng số tiền lãi là 224.280.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp 40.964.384 đồng, số tiền lãi thu trái pháp luật là 183.315.616 đồng. Số tiền thu lời bất chính là 183.315.616 đồng. Số tiền gốc người vay chưa trả cho bị cáo M là 90.000.000 đồng và 18.660.000 đồng tiền lãi.
Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKSTP ngày 04 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố:
- - Bị cáo Hoàng Lê M về tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, quy định tại khoản 2, Điều 201 Bộ luật Hình sự.
- - Bị cáo Đào Thùy L, về tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, quy định tại khoản 1, Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần tranh tụng tại phiên toà, đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Hoàng Lê M và Đào Thùy L về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: Khoản 2, Điều 201 điểm b, s, t, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Lê M từ 250.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng.
- - Áp dụng: Khoản 1, Điều 201; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Đào Thùy L từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền gốc 90.000.000 đồng và số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là 37.556.165; tổng cộng là 127.556.165 đồng của bị cáo Hoàng Lê M. Khấu trừ vào tổng số tiền bị cáo đã nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố T là 130.000.000 đồng. Trả lại cho bị cáo số tiền còn lại là 2.443.835 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền gốc 20.000.000 đồng từ chị Triệu Thị T; số tiền gốc 70.000.000 đồng từ anh Vũ Trung K.
Trước khi mở phiên tòa, bị cáo đã hoàn trả cho chị Triệu Thị T và chị Ứ Lan Hương số tiền lãi suất vượt quá quy định của pháp luật mà bị cáo đã nhận từ chị T và chị H nên không xem xét giải quyết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan La Văn N3, Nguyễn Hoàng Y, Vũ Trung K không ai có yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng
5
hình sự.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Promax vỏ màu đen, đã qua sử dụng;
Tịch thu tiêu huỷ 02 thẻ sim số thuê bao 0963.006.699 và 0376.047.147;
(Tình trạng vật chứng thể hiện như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố T và cơ quan Thi hành án dân sự thành phố T ngày 15/5/2024).
Lưu tại hồ sơ vụ án 01 giấy vay tiền đề ngày 22/01/2015, ký tên người vay Trần Thái D và 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trần Thái D.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo và người có quyền lượi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Hoàng Lê M và Đào Thùy L không trình bày lời bào chữa, nhất trí với luận tội của đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang. Các bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị Ứng Lan H) nhất trí với Luận tội của Kiểm sát viên và đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện nhiệm vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Các bị cáo không khiếu nại, thắc mắc gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Lê M khai nhận từ ngày 06/7/2020 đến ngày 22/12/2023, bị cáo đã sử dụng số tiền gốc ban đầu là 180.000.000 đồng để quay vòng cho 05 người vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với tổng số tiền là 310.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương mức lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất cho phép quy định của Bộ luật Dân sự (là 20%/01 năm); thu tổng số tiền lãi là 224.280.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp 40.964.384 đồng, số tiền lãi thu trái pháp luật là 183.315.616 đồng; trong 05 lần cho vay tiền, có 02 lần bị cáo đã thu số tiền lãi trái pháp luật (01 lần 59.683.014 đồng và 01 lần 33.102.740 đồng); người vay chưa trả cho bị cáo M là 90.000.000 đồng gốc và 18.860.000 đồng lãi.
Bị cáo Đào Thùy L khai nhận: Từ ngày 29/5/2022 đến ngày 08/02/2023, bị cáo đã giúp sức cho bị cáo Hoàng Lê M cho chị Ứng Lan H vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, thu tổng số tiền lãi là 40.500.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp 7.397.260 đồng, số tiền lãi thu trái pháp luật là 33.102.740 đồng.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong
6
giai đoạn điều tra; lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; sao kê chi tiết giao dịch ngân hàng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vì mục đích vụ lợi nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, HĐXX có đủ căn cứ kết luận:
- - Bị cáo Hoàng Lê M phạm tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 2, Điều 201 Bộ luật Hình sự.
- - Bị cáo Đào Thùy L phạm tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 1, Điều 201 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Lê M bị áp dụng tình tiết tăng nặng Phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; bị cáo Đào Thùy L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo;
Bị cáo Hoàng Lê M sau khi phạm tội đã lập công chuộc tội; trước ngày mở phiên toà đã tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả; bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; trong quá trình công tác bị cáo được công nhân danh hiệu Giáo viên dạy giỏi cấp trường N4, vì vậy áp dụng điểm b, điểm t, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo M.
Bị cáo Đào Thùy L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có bố chồng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo L;
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng. Tội phạm mà bị cáo đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, vì vậy cần xem xét mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.
Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội dưới hình thức đồng phạm giản đơn. Bị cáo M là người thực hành tích cực và trực tiếp thu lời bất chính. Bị cáo là người cho vay tiền với lãi suất vượt quá quy định của pháp luật nhằm thu lợi bất chính nhưng có khoản tiền lãi vì ngoài ý muốn nên bị cáo chưa thu hết được số tiền lãi theo mức lãi suất vượt quá quy định của pháp luật nên bị cáo M vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với số tiền lãi mà bị cáo nhằm đạt được.
Bị cáo L đồng phạm với vai trò giúp sức cho bị cáo M 01 lần cho vay lãi nặng, bị cáo không được hưởng lợi gì trong vụ án này, vì vậy cần xem xét hình phạt cho bị cáo L nhẹ hơn bị cáo M.
Căn cứ Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân
7
sự: “Xem xét áp dụng nghiêm khắc hình phạt tiền là hình phạt chính đối với người thực hiện hành vi phạm tội”. Do đó, xét hành vi, tính chất phạm tội của các bị cáo cần áp dụng hình phạt tiền là thoả đáng. Vì vậy, mức hình phạt mà đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang đề nghị HĐXX áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét thấy các bị cáo đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên cũng không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về các biện pháp tư pháp:
Bị cáo Hoàng Lê M đã tự nguyện nộp số tiền gốc sử dụng để cho vay, tiền lãi thu về với tổng số tiền là 130.000.000 đồng, xét thấy bị cáo M đã sử dụng số tiền gốc 180.000.000 đồng để cho vay, hiện nay chị Triệu Thị T chưa trả cho bị cáo số tiền gốc 20.000.000 đồng, anh Vũ Trung K chưa trả số tiền gốc 70.000.000đồng. Đối với khoản tiền gốc bị cáo sử dụng để cho vay; khoản lãi tương ứng 20% là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung nhân sách nhà nước. Cụ thể: Tịch thu số tiền gốc 90.000.000 đồng và số tiền lãi tương ứng 20% là 37.556.165 đồng, tổng cộng là 127.556.165 đồng từ bị cáo M, khấu trừ vào số tiền bị cáo M đã nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự thành phố T. Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền gốc từ chị Triệu Thị T là 20.000.000 đồng và số tiền gốc từ anh Vũ Trung K 70.000.000 đồng.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Triệu Thị T, chị Ứng Lan H xác nhận bị cáo Hoàng Lê M đã trả lại số tiền thu lợi bất chính. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh La Văn N3, chị Nguyễn Hoàng Y, anh Vũ Trung K không yêu cầu, đề nghị về dân sự; do đó HĐXX không xem xét giải quyết.
[6] Về vật chứng: Quá trình điều tra, đã tạm giữ của bị cáo Hoàng Lê M 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Promax vỏ màu đen, đã qua sử dụng, bên trong gắn 02 thẻ sim số thuê bao 0963.006.699 và 0376.047.147; chiếc điện thoại liên quan đến việc thực hiện tội phạm cần sung ngân sách nhà nước; đối với 02 thẻ sim điện thoại tịch thu tiêu hủy.
Thu giữ 01 giấy vay tiền đề ngày 22/01/2015, ký tên người vay Trần Thái D và 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trần Thái D; anh D từ chối nhận lại giấy tờ này nên lưu tại hồ sơ vụ án.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo:
- - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- - Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 201 Bộ luật Hình sự; tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Lê M và Đào Thùy
8
L phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
2. Căn cứ: Khoản 2, Điều 201; điểm b, s, t, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Hoàng Lê M số tiền 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.
3. Căn cứ: Khoản 1, Điều 201; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Đào Thùy L số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.
4. Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Truy thu của chị Triệu Thị T số tiền gốc 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) và của anh Vũ Trung K số tiền gốc 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 127.556.165 đồng của bị cáo Hoàng Lê M (trong đó gồm: số tiền gốc 90.000.000 đồng và số tiền lãi tương ứng 20% là 37.556.165 đồng); khấu trừ vào số tiền 130.000.000 đồng bị cáo M đã nộp theo các Biên lai thu tiền số 0000302 ngày 07/5/2024 và số 0000314 ngày 12/6/2024 của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang; trả lại cho bị cáo M số tiền 2.443.835 đồng nhưng giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Promax vỏ màu đen, đã qua sử dụng;
- - Tịch thu tiêu hủy 02 thẻ sim số thuê bao 0963.006.699 và 0376.047.147.
- - Lưu tại hồ sơ vụ án 01 giấy vay tiền đề ngày 22/01/2015, ký tên người vay Trần Thái D và 01 chứng minh nhân dân số [...] mang tên Trần Thái D.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
(Tình trạng vật chứng thể hiện như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố T và cơ quan Thi hành án dân sự thành phố T ngày 15/5/2024).
5. Căn cứ: Các Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc các bị cáo Hoàng Lê M và Đào Thùy L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị Ứng Lan H) có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị Triệu Thị T, anh Vũ Trung K, chị Nguyễn Hoàng Y và anh La Văn N3) có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án; Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi
9
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7ª và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Hương Giang |
10
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Hoàng Lê Minh khai nhận từ ngày 06/7/2020 đến ngày 22/12/2023, bị cáo đã sử dụng số tiền gốc ban đầu là 180.000.000 đồng để quay vòng cho 05 người vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với tổng số tiền là 310.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương đương mức lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,475 lần mức lãi suất cho phép quy định của Bộ luật Dân sự (là 20%/01 năm); thu tổng số tiền lãi là 224.280.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp 40.964.384 đồng, số tiền lãi thu trái pháp luật là 183.315.616 đồng; trong 05 lần cho vay tiền, có 02 lần bị cáo đã thu số tiền lãi trái pháp luật (01 lần 59.683.014 đồng và 01 lần 33.102.740 đồng); người vay chưa trả cho bị cáo Minh là 90.000.000 đồng gốc và 18.860.000 đồng lãi. Bị cáo Đào Thuỳ Linh khai nhận: Từ ngày 29/5/2022 đến ngày 08/02/2023, bị cáo đã giúp sức cho bị cáo Hoàng Lê Minh cho chị Ứng Lan Hương vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, thu tổng số tiền lãi là 40.500.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp 7.397.260 đồng, số tiền lãi thu trái pháp luật là 33.102.740 đồng.
