|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 51/2024/HS-ST Ngày 14-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hồng Quân
Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lại Thị Nguyễn; ông Nguyễn Ngọc Thanh và ông Trần Quốc Toản
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đông - Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phàng A M (tên gọi khác: Không; giới tính: Nam), sinh ngày 06-10-1986; tại huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Bản P, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phàng A P, sinh năm 1955 và bà Giàng Thị C, sinh năm 1956; có vợ là Giàng Thị B, sinh năm 1983, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2010; hiện bố, mẹ, vợ và các con của bị cáo đều trú tại: Bản P, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái.
Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20-7-2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Y. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Phàng A M: Ông Nguyễn Quốc L – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y. Có mặt;
Người có quyền lợi liên quan: Bà Giàng Thị B, sinh năm 1983; địa chỉ: Bản P, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng giữa tháng 5-2024 tại bản Páo Khắt, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái, M gặp và nói chuyện với người đàn ông tên H, H giới thiệu nhà ở Phú Thọ (Mùa không biết địa chỉ cụ thể), khi đó H có đi cùng với một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch). H hỏi mua ma túy của M, M nói hiện tại không có nếu H cần sẽ tìm mua về bán cho, H lấy số điện thoại của M để liên lạc. Chiều ngày 18-7-2024 H gọi điện cho M hỏi mua 03 lạng Heroine và 02 túi hồng phiến, M đồng ý; sau đó M đi bộ lên khu vực bản L, xã N, huyện M gặp một người đàn ông dân tộc Mông hỏi mua 03 lạng Heroine và 02 túi hồng phiến. Người này nói giá ma túy là 15.000.000đ/01 lạng Heroine và 2.000.000đ/01 túi hồng phiến. Mùa nói hiện tại không mang theo tiền và bảo cho M mua nợ, khi M bán cho khách xong sẽ trả tiền sau. Người này đồng ý và đưa cho M một túi nilon màu đen, bên trong có 02 túi chứa ma túy hồng phiến còn 03 túi chứa ma túy Heroine. Sau khi mua được ma túy, M mang về cất giấu ở bụi cây gần nhà và gọi điện cho H thông báo đã có số lượng ma túy như H cần, đồng thời thống nhất giá ma túy là 16.000.000đ/01 lạng tiểu ly Heroine và 2.500.000đ/01 túi hồng phiến. H đồng ý và hẹn Mùa chiều ngày 20-7-2024 gặp nhau tại bản Páo Khắt, xã N để giao dịch mua bán. Đến chiều ngày 20-7-2024 M mang ma túy đến đầu bản Páo Khắt, xã N rồi vào một lán hoang ở ven đường lấy túi ma túy ra để kiểm tra, thì bị tổ công tác phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Y phát hiện bắt quả tang, thu giữ cạnh vị trí M đang ngồi 01 túi nilon màu đen, bên trong có 05 túi nilon trong đó có 02 túi nilon màu xanh có viền màu đỏ, bên trong mỗi túi đều có chứa các viên nén màu hồng và màu xanh (nghi là ma túy hồng phiến); 03 túi nilon trong đó có 02 túi nilon màu trắng và 01 túi nilon màu xanh bên trong đều chứa chất bột nén màu trắng (nghi là Heroine). Thu giữ tại túi quần trái của M 01 chiếc điện thoại di động ViVo màu trắng. Tổ công tác đã mời đại diện chính quyền địa phương, người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phàng A M, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.
Ngày 20-7-2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phàng A M tại bản P, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái: Không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại bản Kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 27 tháng 7 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận:
- Các viên nén màu hồng thu giữ khi bắt quả tang Phàng A Mùa có tổng khối lượng 41,8 gam; 0,2 gam trích từ 41,8 gam viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.
- Các viên nén màu xanh thu giữ khi bắt quả tang Phàng A M có tổng khối lượng là 0,24 gam; 0,24 gam các viên nén hình màu xanh gửi giám định không tìm thấy chất ma túy.
- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Phàng A M có tổng khối lượng là 96 gam; 0,2 gam trích từ 96 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
Tại Bản cáo trạng số 71/CT-VKS-P1 ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái đã truy tố bị cáo Phàng A M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái giữ nguyên quan điểm truy tố tại Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Phàng A M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” .
Về hình phạt: Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phàng A M (Tên gọi khác: Không) 20 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các vỏ phong bì, túi ni lon không còn giá trị sử dụng; trả lại cho Giàng Thị B 01 điện thoại di động; miễn án phí cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Phàng A M nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm
tội chưa thu được lợi nhuận để xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo nhận tội như bản cáo trạng đã truy tố và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai nhận tại cơ quan điều tra; bị cáo không tranh luận, bào chữa gì và nhất trí với nội dung bào chữa của người bào chữa; bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo và xin được hưởng mức hình phạt thấp để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Phàng A M như sau: Vào chiều ngày 18-7-2024 người đàn ông tên H (người đã gặp và hỏi mua ma túy của M trước đó vào khoảng giữa tháng 5-2024) gọi điện cho M hỏi mua 03 lạng Heroine và 02 túi hồng phiến; M đồng ý, sau đó M đi bộ lên khu vực bản L, xã N, huyện M gặp một người đàn ông dân tộc Mông hỏi mua 03 lạng Heroine và 02 túi hồng phiến với giá là 15.000.000đ/01 lạng Heroine và 2.000.000đ/01 túi hồng phiến. M không mang theo tiền nên đề nghị mua nợ, khi bán cho khách xong sẽ trả tiền sau, người này đồng ý và đưa cho M một túi nilon màu đen, bên trong có 02 túi chứa ma túy hồng phiến còn 03 túi chứa ma túy Heroine. Sau khi mua được ma túy Mùa mang về cất giấu ở bụi cây gần nhà và gọi điện cho H thông báo đã có số lượng ma túy như H cần, đồng thời thống nhất giá ma túy là 16.000.000đ/01 lạng tiểu ly Heroine và 2.500.000đ/01 túi hồng phiến. H đồng ý và hẹn Mùa chiều ngày 20-7-2024 gặp nhau tại bản Páo Khắt, xã N để giao dịch mua bán. Đến chiều ngày 20-7-2024 M mang ma túy đến đầu bản Páo Khắt, xã N rồi vào một lán hoang ở ven đường lấy túi ma túy ra để kiểm tra thì bị Công an bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.
Số ma túy Phàng A M đã mua bán có tổng khối lượng là 137,8 gam gồm: 41,8 gam Methamphetamine và 96 gam Heroine
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích kiếm lời đã cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái đã truy tố đối với bị cáo Phàng A là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã mua bán trái phép chất ma túy gồm 02 chất ma túy là H1 và Methamphetamine có tổng khối lượng 137,8 gam là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đã trực tiếp xâm hại đến chính sách, pháp luật đấu tranh phòng chống ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự, trị an ở địa phương, tội phạm mà bị cáo đã thực hiện là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Do đó cần phải có mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra để răn đe và giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung trong tình hình hiện nay.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo. Việc người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là không phù hợp nên không được chấp nhận.
[6] Về hình phạt: Xét bị cáo Phàng A M mua bán ma túy nhưng chưa bán được thì đã bị bắt giữ nên hậu quả tác hại cho xã hội cũng đã phần nào được kịp thời ngăn chặn; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; chưa thu được lợi nhuận từ việc phạm tội; Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội có 01 tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử thấy về hình phạt chính cần quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[7] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án:
- Đối với 41,8 gam Methamphetamine, đã lấy 0,2 gam làm mẫu giám định. Còn lại 41,6 gam Methamphetamine; 96 gam Heroine, đã lấy 0,2 gam làm mẫu giám định, còn lại 95,8 gam Heroine sau khi đã lấy mẫu giám định là chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 hộp niêm phong đã mở niêm phong, các túi nilon (sau khi mở giám định) là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo do bị cáo đã sử dụng điện thoại này để liên lạc mua bán ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[8] Đối với người đàn ông dân tộc Mông bán ma túy cho Phàng A M: Bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, nơi ở của người này, việc mua bán ma túy giữa hai người diễn ra trực tiếp và không có số điện thoại của nhau, không ai biết và tham gia cùng. Do vậy Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh để điều tra làm rõ.
Đối với người đàn ông tên H và người đi cùng H (người hỏi mua ma túy của bị cáo): Quá trình điều tra không xác định được địa chỉ cụ thể của người đàn ông tên H và người đàn ông dân tộc Mông đi cùng H ở đâu. Bị cáo cung cấp số điện thoại của H là số 0787.481.xxx, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh người đăng ký số thuê bao trên là Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1986, trú tại Thôn N, xã C, huyện V, Yên Bái). Cơ quan điều tra đã xác minh, triệu tập đối với H2 và xác định H2 không liên quan đến vụ án. Do đó không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ và xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo Phàng A M là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo có đề nghị được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-20216 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phàng A M.
[10] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phàng A M (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phàng A M (Tên gọi khác: không) 20 (Hai mươi) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt, tạm giữ bị cáo 20-7-2024.
- Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng sau đây:
- 41,8 gam Methamphetamine, đã lấy 0,2 gam làm mẫu giám định. Còn lại 41,6 gam Methamphetamine; 96 gam Heroine, đã lấy 0,2 gam làm mẫu giám định, còn lại 95,8 gam Heroine sau khi đã lấy mẫu giám định là chất ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 01 hộp niêm phong đã mở niêm phong, các túi nilon (sau khi mở giám định) là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo đã qua sử dụng;
(Toàn bộ số vật chứng và tài sản thu giữ nêu trên có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18-10-2024. giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Yên Bái).
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng sau đây:
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phàng A M.
- Quyền kháng cáo:
Bị cáo Phàng A M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Quân |
Bản án số 51/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 51/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phàng A M - Mua bán TPCMT