|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 51/2024/HS-PT Ngày 23 tháng 8 năm 2024 |
- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thùy Hương |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Quang Vũ |
| Ông Nguyễn Hà Giang |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với Bản án hình sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo bị kháng nghị:
Họ và tên: Đào Ngọc L (tên gọi khác: L1); Sinh ngày 18 tháng 12 năm 1978, tại xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: khu G, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đào Ngọc L2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hồng L3 (tức Nguyễn Thị L4), sinh năm 1952; Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1981; Con: có 01 con (sinh năm 2001);
Tiền án: có 01 tiền án.
- Tại bản án số 47/2008/HSST ngày 24/4/2008, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xử phạt Đào Ngọc L 07 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. L đã nộp án phí ngày 10/9/2008 và được hoãn chấp hành thời hạn tù còn lại của bản án là 04 năm 04 tháng 19 ngày. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/07/2021. Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội (ngày 06/02/2024), Bị cáo L chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật):
+ Tại bản án số 29/HS-ST ngày 26/6/2002, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt Đào Ngọc L 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. L đã chấp hành xong hình phạt và nộp án phí ngày 29/8/2007, đã được xóa án tích.
+ Tại bản án số 57/2011/HSST ngày 15/11/2011, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt Đào Ngọc L 42 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết tăng nặng là “Tái phạm”. Tổng hợp với 04 năm 04 tháng 19 ngày tù chưa chấp hành của Bản án số 47/2008/HSST ngày 24/4/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, buộc Đào Ngọc L phải chấp hành hình phạt 06 năm 10 tháng 15 ngày tù. Khi L đang chấp hành hình phạt tù thì lại tiếp tục phạm tội. Tại bản án này, L được miễn toàn bộ án phí.
+ Tại bản án số 20/2014/HSST ngày 24/6/2014, Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ xử phạt Đào Ngọc L 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết tăng nặng là “Tái phạm”. Tổng hợp với 5 năm 1 tháng 26 ngày tù chưa chấp hành của Bản án số 57/2011/HSST ngày 15/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, buộc L phải chấp hành 07 năm 07 tháng 26 ngày tù. Lưu chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/07/2021 và nộp án phí ngày 03/9/2014, tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 06/02/2024), L đã được xóa án tích đối với bản án này và bản án số 57/2011/HSST ngày 15/11/2011.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 06/02/2024 đến ngày 09/02/2024 chuyển tạm giam, hiện đang chấp hành lệnh Tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 06/02/2024, Tổ công tác của Công an xã V, huyện T đang làm nhiệm vụ tại khu M, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ nghi ngờ Đào Ngọc L đang điều khiển xe mô tô kiểu dáng xe Wave màu đen, mang BKS 37H1-379.81 có biểu hiện liên quan đến ma túy nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác đã phát hiện bên trong túi áo khoác bên phải phía trước của L có 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, đã cũ, bên trong có 07 điếu thuốc lá màu trắng-vàng và 01 gói giấy có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng có dòng kẻ màu đen, bên trong chứa chất bột cục màu trắng. L khai là ma túy Heroine do L vừa mua được của một người đàn ông không quen biết tại khu D, xã V, huyện T với giá 500.000₫ để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, đồng thời niêm phong gói chất bột trên vào một bì giấy dán kín. Ngoài ra, còn tạm giữ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu đen, đã cũ, bên trong gắn sim số 0355.242.228, phía sau điện thoại được gắn ốp cao su màu đen, đã cũ; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đen, mang BKS 37H1-379.8, đã cũ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Đào Ngọc L tại khu G, xã G, huyện T vào hồi 17 giờ 00 phút cùng ngày, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 06/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định số 107, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định số chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 gói giấy thu giữ của Đào Ngọc L. Tại Bản Kết luận giám định số 234 ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:
“Chất bột cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng: 0,254gam”
* Heroine (H) là chất ma túy, có số thứ tự 09, Danh mục I, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Hoàn trả lại đối tượng giám định gồm 0,127 gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.
Ngày 07/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đào Ngọc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa chữa, bổ sung năm 2017.
Tại Cơ quan điều tra, Đào Ngọc L khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: L và Nguyễn Thăng L5- sinh năm 1980 ở khu H - thị trấn T cùng là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, có quen biết và chơi với nhau. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 06/02/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên L đến nhà rủ L5 đi tìm mua ma túy. L5 nói có biết một người bán ma túy ở xã V, huyện T nên L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đen BKS 37H1-379.81 chở L5 đi mua. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, L và L5 đi đến khu D, xã V và gặp một người đàn ông không quen biết do L5 liên hệ từ trước. Tại đây, Lưu đưa cho người đàn ông này số tiền 500.000đ (tiền mua ma túy), người đàn ông đưa cho L5 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có một số điếu thuốc lá và 01 gói ma túy được gói bằng giấy màu trắng (L biết đó là ma túy Heroine). Sau đó, L điều khiển xe mô tô chở L5 về thị trấn T. Khi ngồi lên xe, L5 đã để bao thuốc lá có chứa gói ma túy vào túi áo khoác bên phải, phía trước của L đang mặc. Khi L chở L5 đi về đến khu M, xã V thì gặp Tổ công tác của Công an xã V ra hiệu dừng xe để kiểm tra. Thấy vậy, L5 nhảy xuống xe bỏ chạy, còn L bị Công an xã V kiểm tra và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Căn cứ lời khai của Đào Ngọc L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành triệu tập, làm việc và cho đối chất giữa L và L5. Tuy nhiên, L5 không thừa nhận có liên quan đến hành vi tàng trữ ma túy của L. Ngoài lời khai của L thì không có chứng cứ khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ để làm rõ và xử lý theo quy định.
Đối với người đã bán ma túy cho Đào Ngọc L vào ngày 06/02/2024, quá trình điều tra xác định, Lưu không biết người bán ma túy cho mình là ai, ở đâu. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ để xử lý.
Về xác minh tài sản, thu nhập: Bị cáo sống chung cùng gia đình, không có việc làm và thu nhập ổn định, ngoài những tài sản phục vụ sinh hoạt hàng ngày, không có tài sản riêng gì có giá trị.
Về nhân thân: Bị cáo có bố đẻ là ông Đào Ngọc L2 và mẹ đẻ là Nguyễn Thị Hồng L3 (tức Nguyễn Thị L4) đều được Chủ tịch nước tặng thưởng “Huân chương kháng chiến hạng nhì”;
Tại Bản án hình sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
1. Căn cứ kết tội, tội danh:
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015.
- - Tuyên bố Bị cáo Đào Ngọc L (tên gọi khác: L1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- - Xử phạt Bị cáo Đào Ngọc L (tên gọi khác: L1) 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 06/02/2024).
- - Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Đào Ngọc L.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 02/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ kháng nghị đối với Bản án hình sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ về phần hình phạt theo hướng đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Đào Ngọc L. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn gữ nguyên quan điểm theo quyết định kháng nghị số 159 ngày 2/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận quyết định kháng nghị số 159 ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, tăng hình phạt đối với bị cáo Đào Ngọc L. Về tội danh, đề nghị tuyên bố bị cáo Đào Ngọc L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo từ 27 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 06/02/2024.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với một phần bản án hình sự theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Đào Ngọc L trong hạn luật định, được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo L trình bày bị cáo chưa được nhận Quyết định kháng nghị số 159 ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ. Đây là thiếu sót của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn và Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn cần được rút kinh nghiệm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, sau khi được nghe Đại diện Viện kiểm sát công bố toàn bộ nội dung quyết định kháng nghị, bị cáo đã biết nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị xét xử phúc thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo nhất trí, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tiếp tục xét xử, không đề nghị phải hoãn phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.
[2] Xét Quyết định kháng nghị số 159 ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với một phần bản án hình sự theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Đào Ngọc L nhận thấy:
[2.1] Về căn cứ buộc tội bị cáo Đào Ngọc L:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng do cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra. Theo đó, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 06/02/2024, tại khu M, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Đào Ngọc L đã có hành vi tàng trữ với mục đích sử dụng 01 gói ma túy, loại Heroine, khối lượng: 0,254gam. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn tuyên bố bị cáo Đào Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo L là nghiêm trọng đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc sử dung trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân nảy sinh các tội phạm khác cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển về thể chất, sức khỏe ảnh hưởng đến nòi giống. Bị cáo L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép 0,254 gram Heroine của bị cáo để sử dụng là vi phạm pháp luật xong vì đua đòi ham chơi bị cáo đã cố ý thực hiện.
Xét về nhân thân, bị cáo Đào Ngọc L có 01 tiền án, 03 nhân thân. Bị cáo đã 04 lần bị Tòa án xét xử về nhiều tội danh, trong đó phần lớn tội phạm liên quan đến ma túy. Trong đó các lần xét xử năm 2002, năm 2011 và năm 2014 đến nay bị cáo đã chấp hành xong và được xóa án tích theo quy định nên không bị tính là tiền án. Riêng đối với bản án số 47/2008/HSST ngày 24/4/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đến nay chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Theo đó cho thấy, bị cáo có nhân thân rất xấu, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội, nhất là tình trạng hiện nay có nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Đào Ngọc L2 và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Hồng L3 (tức Nguễn Thị L6) đều là người có công với cách mạng được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo L đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì hiện bị cáo đang bị bệnh xã hội HIV. HĐXX xét thấy, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét cân nhắc khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để thấy rằng, Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo L 13 tháng tù, trên mức khởi điểm của khung hình phạt không đáng kể là chưa thể hiện tính nghiêm minh, không có tác dụng tuyên truyền, phổ biến giáo dục về phòng chống ma túy trong khi cả nước đang nỗ lực phòng chống đối với tệ nạn này. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nào khác. Vì vậy, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là có căn cứ được chấp nhận. Cần sửa Bản án hình sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo Đào Ngọc L.
Về hình phạt bổ sung: miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L cho rằng bị cáo đã cùng Nguyễn Thăng L5 - sinh năm 1980 ở khu H - thị trấn T thực hiện hành vi phạm tội, không phải một mình bị cáo. Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành thu thập cho thấy, đã tiến hành triệu tập, làm việc và cho đối chất giữa bị cáo L và L5. L5 không thừa nhận có liên quan đến hành vi tàng trữ ma túy của L. Ngoài lời khai của L thì không có chứng cứ gì khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ để làm rõ và đề nghị xử lý theo quy định là phù hợp.
[5] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận toàn bộ Quyết định kháng nghị số 159 ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ. Sửa quyết định về phần hình phạt của Bản án hình sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
[2] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc L (tên gọi khác: L1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Ngọc L (tên gọi khác: L1) 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 06/02/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Ngọc L.
[3] Về án phí: Bị cáo không phải án phí hình sự phúc thẩm theo quy định
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Hương |
7
Bản án số 51/2024/HS-PT ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 51/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Ngọc L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
