TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HS-PT Ngày: 12 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Thuỷ và ông Trần Công Đoàn.
Thư ký phiên toà: Ông Mai Hiển Tiến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam mở phiên toà xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 61/2024/TLPT-HS ngày 26/7/2024, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS-ST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 59/2024/QĐXXPT-HS ngày 31/7/2024, đối với:
- * Bị cáo kháng cáo: Trần Xuân T, sinh năm 1999 tại tỉnh Hà Nam; Nơi cư trú: Thôn A C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn S và bà Lê Thị H; V là Vũ Kiều L (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 23/12/2023, chuyển tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay; có mặt.
- * Bị hại không kháng cáo: Ông Trần Văn S, sinh năm 1975 và bà Lê Thị H, sinh năm 1982; Cùng nơi cư trú: Thôn A C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam (Ông Trần Văn S ủy quyền cho bà Lê Thị H theo giấy ủy quyền ngày 01/01/2023); đều có mặt.
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo:
- + Chị Tạ Nguyễn Khánh L1, sinh ngày 22/02/2006; Nơi cư trú: Thôn C P, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn B M, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam; Có mặt.
- + Anh Nguyễn Thành N, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Số nhà E, đường T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.
- + Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1997; Đăng ký HKTT: Thôn G, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nơi ở hiện nay: Số nhà C, đường T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.
- + Anh Hà Minh H2, sinh năm 2000; Đăng ký HKTT: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Xuân T sinh sống cùng nhà với bố mẹ đẻ là ông Trần Văn S và bà Lê Thị H tại thôn A C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam. Do cần tiền trả nợ và tiêu sài cá nhân nên Trần Xuân T đã nảy sinh ý định phá két sắt của bố mẹ để trộm cắp. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/12/2023, thấy không có ai ở nhà, cửa phòng ngủ của bố mẹ ở tầng 1 không khóa nên Trần Xuân T lấy chiếc máy cắt đã chuẩn bị từ trước rồi lén lút vào phòng ngủ của ông Trần Văn S và bà Lê Thị H, dùng tay lật úp chiếc két sắt xuống sàn nhà rồi dùng máy cắt để cắt mặt sau của chiếc két sắt thành 03 đường tạo thành hình chữ “U”. Sau đó luồn tay vào trong két lấy được 27 buộc tiền với tổng số tiền là 270.000.000 đồng (mỗi buộc 10.000.000 đồng đều là tiền có mệnh giá 500.000 đồng).
Sau khi lấy tiền, T dùng tay ấn lại tấm sắt cho kín và dựng két sắt trở lại vị trí ban đầu sau đó mang số tiền lấy được đi đến cửa hàng mua bán điện thoại và dịch vụ chuyển tiền “Phi Hùng 5” ở số nhà E, đường T, thị trấn V, huyện L do anh Nguyễn Thành N làm chủ, đưa cho anh N 260.000.000 đồng tiền mặt để nhờ anh N chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của T. Anh N đến Ngân hàng B chi nhánh huyện L nộp 260.000.000 đồng vào tài khoản 0918121997 của anh N mở tại Ngân hàng V1, sau đó anh N chuyển khoản 260.000.000 đồng từ tài khoản của mình đến tài khoản 108871851217 của Trần Xuân T mở tại Ngân hàng V1. Số tiền 10.000.000 đồng còn lại T cất giữ trong người để tiêu sài cá nhân.
Nhận được tiền, T truy cập tài khoản ngân hàng bằng điện thoại rồi chuyển 10.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng B1 của anh Nguyễn Văn T2; chuyển 47.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng T4 số 19036450817010 của anh Hà Minh H2; chuyển 19.050.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V2 số 9836787838 của anh Phạm Văn H1 để trả nợ tiền vay của những người này trước đó. Tiếp đó T chuyển 100.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M số [...] của chị Tạ Nguyễn Khánh L1 và chuyển 50.000.000 đồng vào tài khoản ví “MoMo” của T. Tổng số tiền T đã chuyển nêu trên là 226.050.000 đồng. Số tiền còn lại trong tài khoản của T là 34.688.146 đồng.
Sau khi phát hiện bị mất trộm tiền, vợ chồng ông S, bà H đã trình báo Công an thị trấn V, huyện L. Tiếp nhận tin báo của Công an thị trấn V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L (Cơ quan CSĐT) đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ 01 két sắt, hiệu AIFEIBRO, màu sơn: Xám, kích thước (60x40x36)cm, mặt sau két sắt có 03 vết cắt: 02 vết cắt kích thước (41,5x0,3)cm và 01 vết cắt kích thước (23,5x0,3)cm. Đến 15 giờ ngày 23/12/2023, Trần Xuân T đến Cơ quan CSĐT đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp số tiền 270.000.000 đồng của ông S và bà H và giao nộp cho Cơ quan CSĐT 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro Max và số tiền 10.000.000 đồng để phục vụ điều tra.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT còn thu giữ của Trần Xuân T 94.333.000 đồng (tiền trong tài khoản ngân hàng và tài khoản ví MoMo của T); thu giữ của cháu Tạ Nguyễn Khánh L1 60.000.000 đồng; bà Lê Thị H tự nguyện giao nộp 01 con dao, dạng dao bầu để phục vụ điều tra. Đối với chiếc máy cắt sắt cầm tay dùng để cắt phá két sắt, T khai để ở vệ đường tại Khu đô thị H thuộc thôn A M, thị trấn V, huyện L, Cơ quan CSĐT đã truy tìm nhưng không thấy.
Bản kết luận số 03/KL-ĐGTS ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: “Giá trị chiếc két sắt, được mô tả như trên tại thời điểm ngày 23/12/2023 là 1.326.200đ (Một triệu ba trăm hai mươi sáu nghìn hai trăm đồng)”.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, cháu Tạ Nguyễn Khánh L1 đã chuyển vào tài khoản của chị Nguyễn Thị T1 (em ruột bà H) 40.000.000 đồng, chị T1 đã trả cho bà Lê Thị H số tiền này; Trần Xuân T đã nhờ là anh Lê Văn T3 (chú ruột của T) bồi thường cho bà Lê Thị H 40.000.000 đồng. Tổng số tiền bà Lê Thị H đã nhận được là 234.333.000 đồng. Số tiền còn lại là 35.667.000 đồng và giá trị chiếc két sắt bị hư hỏng bà H không yêu cầu T phải bồi thường đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trần Xuân T.
Về vật chứng: Đối với số tiền 154.333.000 đồng và 01 chiếc két sắt thu giữ kết quả điều tra xác định là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng bà Lê Thị H, ngày 26/01/2024, Công an huyện L đã trả lại cho bà Lê Thị H. Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro M thu giữ kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Trần Xuân T dùng làm phương tiện thực hiện các giao dịch chuyển số tiền sau khi trộm cắp; 01 con dao bầu là của vợ chồng bà Lê Thị H không còn giá trị sử dụng và không có yêu cầu nhận lại được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
Quá trình điều tra Trần Xuân T khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS-ST ngày 24/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam quyết định: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt Trần Xuân T 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Trong hạn luật định, ngày 27/6/2024, bị cáo Trần Xuân T có đơn kháng cáo nội dung đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Xuân T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo đề nghị được hưởng treo của bị cáo Trần Xuân T; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS-ST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; xử phạt bị cáo Trần Xuân T 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Trộm cắp tài sản”; trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Xuân T không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương.
Bị hại đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Xuân T trong thời hạn, đảm bảo quy định tại Điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh:
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Xuân T một lần nữa thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phiên toà sơ thẩm, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận: Với mục đích chiếm đoạt tài sản, khoảng 08 giờ 30 phút ngày 23/12/2023 tại nhà ông Trần Văn S và bà Lê Thị H thuộc thôn A C, thị trấn V, huyện L, Trần Xuân T đã lén lút dùng máy cắt, cắt phá két sắt lấy trộm của ông Trần Văn S và bà Lê Thị H số tiền 270.000.000 đồng để trả nợ và tiêu sài cá nhân. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất của tội phạm: Hành vi phạm tội của Trần Xuân T trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an địa phương cần xử lý nghiêm, tương xứng nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo:
Bị cáo trình bày lý do kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo: Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn, ăn năn hối lỗi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đã ly hôn vợ phải nuôi 02 con nhỏ; đề nghị cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Hội đồng xét xử xem xét đánh giá toàn diện tính chất, mức độ và hậu quả vụ án, thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cấp sơ thẩm đã áp dụng (sau khi phạm tội đã ra đầu thú; giai đoạn điều tra và tại phiên toà sơ thẩm đều thành khẩn, ăn năn hối cải; quá trình điều tra bị cáo đã tác động nhờ khắc phục phần lớn thiệt hại cho bị hại, tại giai đoạn sơ thẩm bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo và bố đẻ bị cáo đã tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự; bị cáo đã ly hôn hiện phải nuôi 02 con nhỏ là các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Tại phiên toà phúc thẩm bị hại tiếp tục đề nghị giảm nhẹ và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương (trình bày bị cáo đã ly hôn vợ, con còn nhỏ hiện đang do bố mẹ bị cáo nuôi dưỡng) và có bản cam kết gia đình sẽ cùng chính quyền địa phương quản lý, giáo dục bị cáo chấp hành nghiêm pháp luật trong thời gian cải tạo tại địa phương; trong đơn của gia đình (chính quyền địa phương xác nhận và cũng có ý kiến đề nghị cho bị cáo được cải tạo tại địa phương). Ngoài ra gia đình bị cáo nộp đơn (có xác nhận) nội dung bị cáo đã có đóng góp, ủng hộ tiền cho chính quyền chung tay phòng chống dịch Covit 19, Biên lai nộp tiền án phí sơ thẩm là tình tiết xem xét thêm cho bị cáo khi lượng hình.
Xét thấy trong vụ án này, bị cáo Trần Xuân T do bộc phát đã trộm cắp tài sản của chính gia đình (bố mẹ) bị cáo, hậu quả vụ án đã được khắc phục nên ảnh hưởng của vụ án cho xã hội đã được hạn chế; bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ đã nêu trên, có nơi cư trú rõ ràng, gia đình bị cáo và chính quyền địa phương có ý kiến đề nghị xem xét thực hiện khoan hồng cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng không ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Cấp phúc thẩm cân nhắc thấy không cần thiết phải phạt tù mà giữ nguyên hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp quy định của Điều 65 Bộ luật Hình sự và các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Kháng cáo đề nghị được hưởng án treo của bị cáo có căn cứ được chấp nhận.
[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Xuân T không phải chịu. Số tiền 200.000 đồng bị cáo nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam được đối trừ khi thi hành án dân sự.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Xuân T, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HSST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam về hình phạt.
1. Về hình sự: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Tuyên bố bị cáo Trần Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Xuân T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 12/8/2024).
Trả tự do cho bị cáo Trần Xuân T ngay tại phiên toà nếu bị cáo Trần Xuân t không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Trần Xuân T cho Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Xuân T không phải chịu. Số tiền 200.000 đồng bị cáo nộp (theo Biên lai thu tiền số 0000930 ngày 09/8/2024) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam được đối trừ cho bị cáo khi thi hành án.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Mạnh Hùng |
Bản án số 51/2024/HS-PT ngày 12/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 51/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Trần Xuân T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo
