TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2024
V/ v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thanh Hải
Bà Hà Thị Dung
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Kim Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2023/QĐXX-ST ngày 22 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Triệu Khánh H, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Xóm N, xã P, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Yuan J, sinh năm 1982.
Địa chỉ: P, Tòa A, số E, Thôn T, Quận C, thành phố N, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Triệu Khánh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 09 tháng 9 năm 2020 chị và anh Yuan J tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên nhưng không tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn xong, vợ chồng sinh sống cùng nhau khoảng 04 tháng. Cuối năm 2020, anh Yuan J trở về Trung Quốc để sinh sống và làm việc. Thời gian đầu vợ chồng vẫn giữ liên lạc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do ở cách xa nhau, vợ chồng ít liên lạc, ít quan tâm đến nhau. Sau một thời gian suy nghĩ, chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống, chúng tôi không có con chung;
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Yuan J có quốc tịch Trung Quốc: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam đã thực hiện ủy thác tư pháp hồ sơ dân sự đến cơ quan có thẩm quyền theo Công văn số 03/TTTPHNGĐ-TA ngày 14/9/2023 để thu thập ý kiến trình bày của bị đơn anh Yuan J theo địa chỉ tại Trung Quốc, được nguyên đơn cung cấp cũng như địa chỉ có tại hồ sơ đăng ký kết hôn. Ngày 08/3/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã có Công văn số 02/CV-TA đề nghị cung cấp kết quả thực hiện tư pháp, Bộ tư pháp đã có Công văn số 500/BTP-PLQT ngày 18/3/2024 trả lời Bộ tư pháp đã có Công hàm 393/CH-BTP ngày 29/02/2024 đôn đốc nhưng chưa nhận được phản hồi từ Cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc. Đến nay Tòa án không nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về kết quả thực hiện việc tống đạt cho đương sự ở nước ngoài.
Ngày 07/6/2024, nguyên đơn Triệu Khánh H cung cấp cho Tòa án thông tin anh Yuan J hiện đang ở địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Ngày 17/6/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên ủy thác thu thập chứng cứ đối với anh Yuan J cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng. Tại biên bản xác minh ngày 08/7/2024 giữa Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng và Công an xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng xác định: Anh Juan Y sinh năm 1982, quốc tịch Trung Quốc đã thuê nhà của ông C ở Thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng để bán hàng, tuy nhiên hiện nay anh Yuan J đã không còn thuê nhà ông C và đã chuyển đi. Công an xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng xác định hiện nay trên địa bàn xã T không có người tên Yuan J nêu trên.
Tại Công văn số 2167/PA08(Đ2) đề tháng 5/2024 của Phòng Q Công an tỉnh T xác định anh Yuan J, sinh năm 1982, quốc tịch Trung Quốc, đã xuất cảnh ngày 01/10/2023 qua cửa khẩu L, tỉnh Lào Cai.
Tại phiên tòa ngày 15/01/2024 và ngày 19/02/2024 anh Y1 Jun vắng mặt, tại phiên tòa hôm nay, anh Yuan J vắng mặt lần 03 nên Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử vắng mặt anh Y1 Jun theo quy định tại Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Kể từ thời điểm thụ lý giải quyết vụ án đến nay, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án đã tiến hành tống đạt theo địa chỉ hợp lệ của bị đơn qua hồ sơ đăng ký kết hôn và nguyên đơn cung cấp, nhưng việc ủy thác không nhận được kết quả. Vì vậy, việc Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại các Điều 474, 476, 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Khánh H, cho chị H được ly hôn với anh Yuan J; Về con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét. Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Triệu Khánh H, sinh năm 2002, quốc tịch: Việt Nam có địa chỉ thường trú: Xóm N, xã P, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, nước Việt Nam. Anh Yuan J, sinh năm 1982, quốc tịch: Trung Quốc, địa chỉ: P, Tòa A, số E, Thôn T, Quận C, thành phố N, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Nên đây là vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 464 và Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn anh Yuan J đã được Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp thu thập chứng cứ qua địa chỉ P, Tòa A, số E, thôn T, quận C, thành phố N, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc là địa chỉ đã được nguyên đơn cung cấp cũng như địa chỉ có tại hồ sơ đăng ký kết hôn. Ngày 14/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã có văn bản ủy thác số 03/TTTPHNGĐ-TA ngày 14/9/2023 để tống đạt văn bản tố tụng và lấy lời khai của anh Yuan J. Tại phiên tòa ngày 15/01/2024 và ngày 19/02/2024 anh Yuan J đều vắng mặt, Tòa án không nhận được kết quả ủy thác tư pháp nên Tòa án đã hoãn phiên tòa. Ngày 08/3/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã có Công văn số 02/CV-TA đề nghị cung cấp kết quả thực hiện tư pháp, Bộ tư pháp đã có Công văn số 500/BTP-PLQT ngày 18/3/2024 trả lời Bộ tư pháp đã có Công hàm 393/CH-BTP ngày 29/02/2024 đôn đốc nhưng chưa nhận được phản hồi từ Cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc. Đến ngày 25/6/2024, Bộ tư pháp có công văn Số 1776/BTP-PLQT về việc chưa nhận được phản hồi từ Cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc.
Căn cứ Điều 227, Điều 474, điểm c khoản 5 Điều 477 và Điều 478 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử mở phiên toà xét xử vụ án và hoãn phiên toà lần thứ nhất vào ngày 15/01/2024, mở lại phiên tòa lần thứ hai vào ngày 19/02/2024. Do đó, tại phiên toà mở lần thứ ba hôm nay, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Yuan J là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1.] Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Khánh H và anh Yuan J kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn xong, vợ chồng sinh sống cùng nhau khoảng 04 tháng. Cuối năm 2020, anh Yuan J trở về Trung Quốc để sinh sống và làm việc. Thời gian đầu vợ chồng vẫn giữ liên lạc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do ở cách xa nhau, vợ chồng ít liên lạc, ít quan tâm đến nhau. Xét khoảng thời gian vợ chồng sống ly thân đã gần 04 năm, mục đích hôn nhân không đạt được, các bên không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau, nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Triệu Khánh H, cho chị H được ly hôn với anh Yuan J là phù hợp với thực tế và quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
[2.2.] Về con chung: Không có, không xem xét giải quyết
[2.3.] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết
[3] Án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, lệ phí ủy thác tư pháp, chi phí thực tế thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật; về chi phí tố tụng: Đã quyết toán xong.
[4] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, được chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28; Điều 37; Khoản 2 Điều 38; Điều 39; Điều 147; Điều 207; khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 56, Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Triệu Khánh H đối với anh Yuan J.
- Về hôn nhân: Cho chị Triệu Khánh H được ly hôn với anh Yuan J.
- Về con chung: Không có, không xem xét giải quyết
- Tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
- Án phí: Chị Triệu Khánh H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm sung quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000209 ngày 23/12/2022 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên; phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp sung quỹ nhà nước, được trừ vào số tiền 200.000đ tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số 0000292 ngày 10/8/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên. Về chi phí tố tụng khác đã quyết toán xong.
Chị Triệu Khánh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Yuan J được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thủy (đã ký) |
5
Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 51 H YJ
