TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HNGĐ Ngày: 11-7-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Minh và bà Lê Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Trần Bảo Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: bà Nguyễn Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 55/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST–HNGĐ, ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QÐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Quảng Thị Kim T - Sinh năm: 1984 – Có mặt
- Bị đơn: Ông Kiều Ngọc T1 - Sinh năm: 1980 – Vắng mặt
- Cùng địa chỉ: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26-01-2024 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Quảng Thị Kim T trình bày:
Về hôn nhân: Bà T và ông T1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 159 ngày 04-08-2010. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Ông T1 tự ý sống cách xa bà T từ năm 2023. Trong thời gian sống cách xa nhau, không ai quan tâm tới ai. Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Kiều Ngọc T1.
Về con chung: Vợ chồng ông T1 và bà T có 03 con chung tên là Kiều Thị Kim T2 – Sinh ngày 24/8/2005, Kiều Ngọc L – Sinh ngày 03/8/2008 và Kiều Ngọc P – Sinh ngày 16/4/2012. Cháu T2 đã đủ 18 tuổi, lao động tự túc được nên không yêu cầu xem xét. Đối với cháu L và cháu P, hiện tại đang do bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn trình bày: bị đơn ông Kiều Ngọc T1 được thông báo về việc khởi kiện, triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến trình bày.
Theo Biên bản xác minh ngày 26-4-2024 chính quyền địa phương cho biết ông T1 và bà T không còn sống chung với nhau từ năm 2023 cho đến nay, nhưng ông T1 vẫn thường xuyên về địa phương thăm con. Năm 2023, vợ chồng ông T1 và bà T có làm đơn đề nghị Ban Q giải quyết cho ly hôn và được Ban quản lý khu phố hướng dẫn đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vì Ban quản lý khu phố không có thẩm quyền giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu về thủ tục tố tụng cũng như nội dung giải quyết vụ án được tóm tắt như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự. Bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do chính đáng nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Quảng Thị Kim T với bị đơn ông Kiều Ngọc T1; Buộc bà Quảng Thị Kim T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên Tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Kiều Ngọc T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Kiều Ngọc T1.
[2]. Nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Quảng Thị Kim T yêu cầu được ly hôn với ông Kiều Ngọc T1 thấy:
Có đủ căn cứ xác định ông T1 tự ý sống cách xa bà T 02 năm nay, trong thời gian sống cách xa nhau không ai còn quân tâm tới ai, mạnh ai người đó sống. Việc ông T1 tự ý sống cách xa bà T đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình.
Năm 2023, bà T đã nộp đơn khởi kiện ly hôn đến Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước và sau đó rút đơn khởi kiện, Tòa án đình chỉ giải quyết theo quyết định số 74/2022/QÐST-HNGĐ ngày 22/9/2022.
Xác minh tại chính quyền địa phương được biết: năm 2023, ông T1 và bà T đến Ban Q để yêu cầu giải quyết cho ly hôn và được chính quyền địa phương hướng dẫn nộp đơn khởi kiện đến Tòa án cấp có thẩm quyền để được xem xét.
Từ những lý do trên xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông T1 là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét bà Quảng Thị Kim T yêu cầu được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung chưa đủ 18 tuổi là Kiều Ngọc L – Sinh ngày 03/8/2008 và Kiều Ngọc P – Sinh ngày 16/4/2012 thấy:
Từ khi sống cách xa nhau, bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con. Tại thời điểm xét xử bà T đủ điều kiện nuôi con. Mặt khác ông T1 không có ý kiến tranh chấp việc nuôi con nên giao các con cho bà T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và nguyện vọng của con chung.
Do bà T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung của người không trực tiếp nuôi con thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Đối với con chung là cháu Kiều Thị Kim T2 – Sinh ngày 24/8/2005 đã trưởng thành, lao động tự túc, bà T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, buộc bà Quảng Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Quảng Thị Kim T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.
[3]. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước về việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xử lý về án phí là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều: 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận cho bà Quảng Thị Kim T được ly hôn với ông Kiều Ngọc T1;
- Giao cho bà Quảng Thị Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung tên: Kiều Ngọc L – Sinh ngày 03/8/2008 và Kiều Ngọc P – Sinh ngày 16/4/2012 (các cháu đang ở cùng bà T)
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: bà Quảng Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Quảng Thị Kim T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001143 ngày 23-02-2024, bà Quảng Thị Kim T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt Nguyên đơn. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/7/2024). Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Tùng |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi: 09h00', ngày 30 tháng 10 năm 2020
Tại phòng nghị án Tòa án nhân dân huyên Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn T3
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị H và bà Bá Thị Thu Vân
Tiến hàn nghị án vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 331/2020/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 8 năm 2020 về Ly hôn, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Trần Trung L1 - Sinh năm: 1978; trú tại: Đ, Hợp tác xã D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Bà Cao Thị Ngọc P1 - Sinh năm: 1985; trú tại: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở hiện tại: Thôn T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN NHƯ SAU
- Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn đã được triệu tập hợp, có ý kiến vằng văn bản xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
- Nội dung giải quyết vụ án:
2.1. Điều luật áp dụng: Căn cứ: khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều: 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Lyhôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của ông Trần Trung L1 với bà Cao Thị Ngọc P1.
+ Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Trung L1 được ly hôn với anh bà Cao Thị Ngọc P1.
+ Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Thị Thùy D, sinh ngày 22-5-204 cho ông Trần Trung L1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (Cháu D đang ở cùng ông L1). Bà Cao Thị Ngọc P1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung do ông L1 không có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
+ Về án phí: Ông Trần Trung L1 phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí Tòa án ông L1 đã nộp theo Biên lai tu tiền số 0006067 ngày 10-6-2020 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 09h30' ngày 30 tháng 10 năm 2020
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Ông T1 trình bày trong thời gian chung sống ông và bà D1 có mâu thuẩn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả, đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017, trong thời gian không chung sống không ai còn quan tâm tới ai, mạnh ai người đó sống.
Bản án số 51/2024/HNGĐ ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 51/2024/HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
