Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/7/2024.

“Về: Tranh chấp ly

hôn, nuôi con chung".


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hòa

Bà Nguyễn Thị Lê

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Trong ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 58/2024/ TLST – HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990

Nơi cư trú: Thôn E, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

- Bị đơn: Anh Đồng Văn T, sinh năm 1982

Nơi cư trú: Thôn E, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên toà).


NỘI DUNG VỤ ÁN:


* Theo đơn khởi kiện ngày 22/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị và anh Đồng Văn T tự nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân vào năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quá trình chung sống hạnh phúc, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống cả về kinh tế và tình cảm. Đến nay chị thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài thêm, nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Đồng Thị Thanh A, sinh ngày 16/11/2012 và Đồng Minh P, sinh ngày 24/01/2016. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung cho đến khi thành niên, không yêu cầu anh T tự cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án anh Đồng Văn T trình bày: Xác nhận anh và chị L là vợ chồng chung sống từ năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu về vấn đề kinh tế gia đình, dẫn đến vợ chồng không hòa thuận nhau. Từ tháng 12/2023 cho đến nay chị L đưa 02 con đi đâu anh không biết, từ đó đến nay anh và chị L sống ly thân, không quan tâm gì nhau, nay anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị L.

Về con chung: Xác nhận có 02 con chung là Đồng Thị Thanh A, sinh năm 2012 và Đồng Minh P, sinh năm 2016; anh đồng ý giao 02 con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:


Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo qui định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Đồng Văn T tự nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân, được Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2012, ngày 02/3/2012, nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, chị L và anh T chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống về kinh tế và tình cảm gia đình, nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T; anh T xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 12/2023 cho đến nay, từ khi ly thân hai vợ chồng không quan tâm gì nhau, nay đồng ý ly hôn với chị L. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo phiên hoà giải nhiều lần, nhưng anh T không tham gia, còn chị Luận cương q xin được ly hôn với anh T; Như vậy, thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn với anh T là phù hợp với qui định của pháp luật.

* Về con chung: Chị L và anh T có 02 con chung là Đồng Thị Thanh A, sinh ngày 16/11/2012 và Đồng Minh P, sinh ngày 24/01/2016. Từ khi anh T và chị L ly thân đến nay, chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung; Quá trình giải quyết vụ án cả chị L và anh T thống nhất ý kiến chị L có đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nên giao cho chị L có nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 con chung cho đến khi các con thành niên; Hai con chung của chị L và anh T có nguyện vọng được chị L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng; Vì vậy, cần giao cả hai con chung cho chị L tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Chị L và anh T không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

* Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

* Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:


- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 4 Điều 147; các Điều 161, 218, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/ 2016/ UBTVQH16 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị L đối với bị đơn Đồng Văn T; xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Đồng Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung Đồng Thị Thanh A, sinh năm 2012 và Đồng Minh P, sinh năm 2016 cho chị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; Đồng thời có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiêp nuôi con theo quy định của pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009113 ngày 04/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


Thành viên hội đồng xét xử Thẩm phán chủ tọa phiên tòa

Trần Đức Hoa

Nguyễn Thị Lê

Nguyễn Văn Huệ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 51/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger