|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/DS-ST
Ngày: 20-9-2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lộc và ông Nguyễn Hữu Nhạc
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Khang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2021/TLST-DS, ngày 10/9/2021, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/QĐST-DS ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức K, sinh năm 1971 (đã chết).
Địa chỉ: Xóm C, thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Đức K:
- + Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1945;
- + Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1949;
- + Bà Nguyên Thị Xuân T2, sinh năm 1977;
- + Chị Nguyễn Thị Xuân T3, sinh năm 1998;
- + Anh Nguyễn Đức T4, sinh năm 2000.
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T1, bà T2, chị T3, anh T4: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974. Địa chỉ: Xóm D, thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T5, sinh năm 1953. Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T5: Ông Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Xuân T6, sinh năm 1977. Địa chỉ: Xóm C, thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
- Bà Phan Thị T7, sinh năm 1955.
- Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1945.
- Ông Nguyễn Đức L1, sinh năm 1956.
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1943 (đã chết)
- + Bà Trần Thị Q, sinh năm 1961;
- + Ông Trần Thanh T8, sinh năm 1964;
- + Ông Trần Thanh L2, sinh năm 1970;
- + Ông Trần Thanh P1, sinh năm 1973;
- + Ông Trần Thanh L3, sinh năm 1976;
- + Bà Trần Thị H, sinh năm 1980;
- + Ông Trần Thanh N, sinh năm 1983;
- + Ông Trần Thanh S, sinh năm 1985;
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1965.
- Bà Nguyễn Thị L4, sinh năm 1959.
- Ủy ban nhân dân huyện T.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1974. Địa chỉ: Xóm D, thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận và ông Lê Văn M, sinh năm 1994, địa chỉ: Số A đường B, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T7: Ông Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1992.
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị P gồm:
Cùng địa chỉ tại: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: Xóm C, thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: Thôn F, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Quý B, chức vụ: Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Từ năm 2004, ông Nguyễn Đức T5 cùng vợ là bà Nguyễn Thị Xuân T6 làm nhà ở trên phần đất có diện tích 752 m², dài 64m, chiều ngang phía trước 11,5 m và chiều ngang sau là 12m tại thửa đất số 172, tờ bản đồ số 7. Nguồn gốc đất là vào ngày 16/10/2004, cụ Nguyễn Đức T9 (ông nội của ông T5), viết giấy tay có người làm chứng với nội dung: Ông bà nội cho cháu Nguyễn Đức K 752 m² đất có chiều dài 64m, chiều ngang phía trước 11,5m và chiều ngang sau là 12m. Ngày 08/05/2009, ông K làm đơn gửi UBND xã H để xác nhận lô đất thổ cư là của ông bà nội cho, để làm cơ sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được UBND xã H xác nhận vào ngày 11/05/2009. Gia đình ông K đã sử dụng đất từ năm 2004 đến tháng 05 năm 2010 không xảy ra bất kì tranh chấp nào. Thời điểm tranh chấp xảy ra khi ông K đến UBND huyện T để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới biết vào ngày 27/05/2010, UBND huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Đức T5 và bà Phan Thị T7 với diện tích 1.470 m² trong đó có cả 752m² mà cụ Nguyễn Đức T9 đã cho ông K. Do đó, ông K yêu cầu Toà án giải quyết: Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho ông Nguyễn Đức K đối với diện tích 752 m² tại thửa đất số 172 tờ bản đồ số 7; buộc ông Nguyễn Đức T5 và bà Phan Thị T7 chấp dứt hành vi tranh chấp với diện tích 752 m² tại thửa đất số 172 tờ bản đồ số 7 mà ông Nguyễn Đức K đang sử dụng; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB792932 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Đức T5 và bà Phan Thị T7 ngày 27/5/2010.
Ngày 09/10/2023 ông K chết, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông K đều thống nhất giữ nguyên trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông K.
Bị đơn và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông T5 là chú của ông Nguyễn Đức K. Giữa ông T5 và ông K có xảy ra tranh chấp về quyền sử dụng đất đối với thửa đất có diện tích khoảng 752m² tại thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Phần đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T5 số BB792932 ngày 27/5/2010 nên thuộc quyền sử dụng đất của ông T5.
Nguồn gốc, quá trình sử dụng đất: Vào khoảng năm 1990, ông T5 có hoán đổi mảnh đất ông T5 đang sử dụng cho ông Phan Văn N1 để lấy thửa đất khoảng 1.500m² tại thôn C, xã H; sau khi hoán đổi, ông T5 giao phần đất nhận hoán đổi cho cha mẹ sử dụng để ở (cha của ông T5 là cụ Nguyễn Đức T9 đã chết vào năm 2007 và mẹ là cụ Nguyễn Thị S1 đã chết vào năm 2009). Đến khoảng năm 1995 thì ông T5 đồng ý để cho cha mẹ đứng tên kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đất đối với mảnh đất này, là thửa số 172a và 172 tờ bản đồ số 7, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C911092 cấp ngày 19/9/1995 cho Nguyễn Đức T9. Ông T5 giao mảnh đất này cho cụ T9, cụ S1 sử dụng. Khoảng thời gian năm 2004 thì ông Nguyễn Đức K có mượn của ông T5 một phần trong thửa đất này làm nhà để ở và để trông nom ông bà nội (cụ T9, cụ S1). Đến năm 2007, thì cụ T9 chết, ông T5 về quản lý sử dụng phần đất này, đến năm 2009 cụ S1 chết. Sau khi cụ T9 và cụ S1 chết, năm 2010 ông T5 làm thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất có tất cả những người thừa kế đồng ý ký thủ tục tại UBND xã H, chuyển quyền sử dụng đất thửa 172a và 172, đứng tên cụ T9 cho ông T5 và bà Phan Thị T7 được quyền quản lý sử dụng, sau đó ông T5, bà T7 được cấp quyền sử dụng đất tại thửa số 172, tờ bản đồ số 7, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB792932. Sau khi hoàn thành thủ tục nhận thừa kế, ông T5 vẫn đồng ý để cho ông K tiếp tục sử dụng một phần trong thửa đất số 172 (có bề ngang khoảng 7m, trên đất có căn nhà) để vợ chồng ông K sử dụng. Đến năm 2018 thì ông K tranh chấp, yêu cầu ông T5 phải giao quyền sử dụng đất đối với một phần trong thửa số 172 cho ông K đứng tên quyền sử dụng đất, nhưng ông T5 không chấp nhận. Sự việc đã qua hòa giải tại UBND xã H nhưng không thống nhất.
Hiện nay, ông K yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 752m² tại thửa số 172, tờ bản đồ số 7 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông T5, bà Thôi thì ông T5 không chấp nhận. Nguồn gốc đất là của ông T5 nhận hoán đổi từ ông N1, ông T5 cho ông K mượn để ở từ năm 2004, ông T5 chỉ chấp nhận cho ở chứ không đồng ý chuyển quyền sử dụng. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông T5, bà T7 được cấp là đúng quy trình, quy định của pháp luật về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Phan Thị T7 trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Đức T5 và ông Nguyễn Đức Đ, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức K.
- + Bà Nguyễn Thị Xuân T6 trình bày: Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của chồng bà là ông Nguyễn Đức K và lời trình bày của bà Nguyễn Thị L. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K.
- + Ông Nguyễn Đức T trình bày: Khi còn sống cha ông là cụ Nguyễn Đức T9 và mẹ là Nguyễn Thị S1 đã thống nhất cho cháu nội đích tôn ông Nguyễn Đức K cũng là con trai ½ diện tích đất của cha, mẹ. Nay con trai ông đã chết, ông đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ của ông K là bà Nguyễn Thị Xuân T6 và con là Nguyễn Thị Xuân T3, Nguyễn Đức T4 được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất 752 m² tại thửa đất số 172 tờ bản đồ số 7 thuộc trong giấy chứng nhận của cha ông mà hiện nay đã cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Đức T5, ông không yêu cầu được nhận phần đất này. Ông thống nhất với nội dung bà Nguyễn Thị L trình bày, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- + Ông Nguyễn Đức L1 trình bày: cha mẹ ông là cụ Nguyễn Đức T9 chết 2007, bà Nguyễn Thị S1 chết năm 2009 có 06 người con gồm: bà Nguyễn Thị P (đã chết vào ngày 18/12/2021), ông Nguyễn Đức T5, sinh năm 1953, ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1954, ông Nguyễn Đức L1, sinh năm 1956, bà Nguyễn Thị L4, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1965; ngoài những người con trên ông T9, bà S1 không có con nuôi hay con riêng nào khác. Nguồn gốc đất do HTX B1 Khiêm cấp cho ông Nguyễn Đức T9; sau này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C911092 ngày 19/9/1995. Ngày 16/10/2004, cụ T9 và cụ S1 làm giấy sang nhượng đất lô thổ cư cho cháu nội là ông Nguyễn Đức K trước khi làm giấy cha mẹ ông có gọi đầy đủ các con về để họp gia đình và 6 người con đều đồng ý việc cho đất của cha mẹ cho cháu là Nguyễn Đức K. Năm 2009, ông T5 nói cháu K muốn làm sổ nhanh đưa cho ông làm giùm vì ông có quen biết và có con là Nguyễn Thị Kiều C làm ở xã, ông K đã nói ông T đưa sổ đỏ của cụ T9 giao cho ông T5; sau đó ông T5 có cầm 01 tờ giấy tới nhà từng anh chị em nói ký vào tờ giấy này để làm sổ đỏ cho K được nhanh, nên ông mới ký vào, khi ký ông không đọc nội dung ghi gì; sau này mới biết là giấy từ chối nhận di sản của cha mẹ ông. Nay ông đề nghị Tòa xem xét giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K.
- + Bà Nguyễn Thị L4, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị P và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà P: Bà L4, bà H1, bà P và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà P đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa để cung cấp lời khai và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức K.
- + Ủy ban nhân dân huyện T trình bày: thửa đất số 172, tờ bản đồ số 7 diện tích 1.470m² (trong đó có 360m² đất ở, 1.110m² đất màu) được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 911092 ngày 19/9/1995 cho hộ ông Nguyễn Đức T9. Sau khi ông T9 chết, thửa đất này được 06 người con ruột của ông Tư lập văn bản phân chia tài sản thừa kế thống nhất giao cho ông T5, bà T7 được quyền sử dụng và được UBND xã H chứng thực ngày 02/4/2010. Trên cơ sở văn bản phân chia tài sản thừa kế, các hồ sơ liên quan và đơn đề nghị của ông Nguyễn Đức T5, UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 792932 ngày 27/5/2010 cho hộ ông Nguyễn Đức T5 và bà Phan Thị T7. Đến khoảng tháng 01 năm 2018, giữa ông Nguyễn Đức K và ông Nguyễn Đức T5 xảy ra tranh chấp diện tích đất theo đơn ông K (khoảng 752m²). UBND xã H đã tổ chức hòa giải nhưng không thành. Tại biên bản hòa giải đã có hướng dẫn các bên gởi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đến cơ quan Tòa án để được xem xét, giải quyết. Về văn bản phân chia tài sản thừa kế: UBND xã H đã kiểm tra và chứng thực đúng theo trình tự, thủ tục quy định. Hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Đức T9 có 6 người như văn bản phân chia tài sản thừa kế là đúng. Trên cơ sở hồ sơ có liên quan, trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Đức T5, các quy định của pháp luật hiện hành, UBND huyện trả lời đơn ông Nguyễn Đức K như sau: Ông K nhận tặng cho một phần thửa đất số 172, tờ bản đồ số 07 từ năm 2004 nhưng không thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Văn bản phân chia tài sản thừa kế, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 792932 ngày 27/5/2010 cho ông hộ ông Nguyễn Đức T5 và bà Phan Thị T7 được thực hiện đúng quy định. Do vậy, hiện nay không có cơ sở để UBND huyện T hủy bỏ, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo như đơn yêu cầu của ông. Trong vụ án này, UBND huyện T giữ nguyên quan điểm nêu trên và không có yêu cầu gì. Sau khi Tòa án có quyết định, UBND huyện T sẽ căn cứ theo nội dung quyết định của Tòa án để thi hành.
Tại phiên tòa:
- - Bà Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị Xuân T6 có ý kiến: Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất với diện tích 752m², sau khi có kết quả đo đạc, nguyên đơn yêu cầu công nhận cho nguyên đơn ½ diện tích đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T5, bà T7. Hiện nay ông K đã chết, đề nghị Tòa án công nhận cho bà T6 là vợ ông K và các con là Nguyễn Thị Xuân T3 và Nguyễn Đức T4 được quyền sử dụng diện tích đất này.
- - Ông Nguyễn Đức Đ có ý kiến: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong vụ án:
- + Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
- + Về nội dung: Mặc dù ông T5 trình bày nguồn gốc thửa đất tranh chấp là do ông đổi đất cho ông Phan Văn N1 và để cho cha mẹ là cụ T9, cụ S1 sử dụng, nhưng khi cụ T9 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T5 không có ý kiến. Như vậy, thửa đất này thuộc quyền sử dụng của vợ chồng cụ T9, cụ S1. Khi còn sống cha mẹ ông T5 đã viết giấy tặng cho ông K ½ diện tích thửa đất, gia đình ông K đã làm nhà trên đất, nhưng sau khi cha mẹ chết, các anh chị em của ông T5 lại phân chia di sản thừa kế để lại toàn bộ thửa đất cho ông T5 là không đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như tinh thần Án lệ số 52/2021.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị L4, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị P đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, ông Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức L1 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt những đương sự này.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng cho nguyên đơn đối với diện tích 752 m² và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 792932 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Đức T5 và bà Phan Thị T7 ngày 27/5/2010. Diện tích đất tranh chấp và các đương sự đều ở tại tỉnh Bình Thuận nên quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công nhận quyền sử dụng đất:
[3.1] Bị đơn ông T5 cho rằng nguồn gốc diện tích đất này do ông hoán đổi với ông Phan Văn N1 vào ngày 12/4/1990 và để cho cha mẹ là cụ Nguyễn Đức T9 và cụ Nguyễn Thị S1 ở. Năm 1995, khi có chính sách làm sổ đỏ thì ông T5 đồng ý để cha mẹ kê khai làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất đứng tên cha mẹ, khi nào có sổ đỏ thì cha mẹ sẽ làm thủ tục chuyển nhượng lại cho ông. Bị đơn trình bày như trên nhưng không có tài liệu chứng minh. Ngày 19/9/1995, cụ Nguyễn Đức T9 được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất 1.470m² thuộc thửa đất số 172 và 172a, tờ bản đồ số 7. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận, cụ T9 và cụ S1 vẫn sử dụng, không có thông tin hay tài liệu nào thể hiện hai cụ có ý định chuyển tên chủ sử dụng đất lại cho ông T5. Như vậy, diện tích 1.470m² được Nhà nước cấp quyền sử dụng cho cụ Nguyễn Đức T9 nên vợ chồng cụ T9, cụ S1 có quyền định đoạt đối với toàn bộ diện tích đất này.
[3.2] Ngày 16/10/2004, cụ Nguyễn Đức T9 có lập “Giấy sang nhượng lô thổ cư” với nội dung: “Nguyên hiện nay tôi đang có một lô thổ cư hiện ở xóm B, thôn I, H. Lô thổ cư hiện Đông giáp bà Trần Thị Q, Tây giáp ông Trần Thanh T8. Hiện nay vợ chồng tôi đã già, có một đứa cháu nội đích tôn đã có vợ con. Tôi là ông nội nên vợ chồng tôi nhất trí cho cháu tên Nguyễn Đức K ½ diện tích lô thổ cư tôi đang ở để cháu làm nhà ở và hôm sớm tối lửa tắt đèn có gì có cháu nội trông nom. Lô đất vợ chồng tôi cho giáp ranh phía bà Trần Thị Q với diện tích chiều dài 64m² chiều ngang sau 12m, trước 11,5m. Tổng diện tích cho là 752m². Hiện cháu tôi K đã làm nhà ở. Để khỏi trở ngại sau này, tôi làm giấy này nhờ chính quyền và bà con làm chứng cho tôi và cháu K được quyền xử dụng lô đất trên. Vậy lô đất thổ cứ ấy thuộc quyền sở hữu của Nguyễn Đức K không ai có quyền tranh giành và chiếm đoạt”. Phía dưới văn bản này cụ S1 và cụ T9 cùng ký tên, điểm chỉ. Ngoài ra, có ông Nguyễn Đình L5 ký tên làm chứng và trưởng thôn là ông Phan Khắc Ú ký xác nhận.
[3.3] Năm 2007, cụ T9 chết, năm 2009 cụ S1 chết, hai cụ không để lại di chúc. Ngoài “Giấy sang nhượng lô thổ cư” lập ngày 16/10/2004, hai cụ không có văn bản nào khác thay đổi ý chí về việc tặng cho ông K ½ diện tích đất thuộc thửa 172, 172a. Ngày 08/5/2009, ông K làm Giấy xác nhận đất thổ cư đối với diện tích đất nêu trên, được cán bộ địa chính và UBND xã H xác nhận ngày 11/5/2009: diện tích đất ông K đang sử dụng là nhận tặng cho từ ông nội ruột là Nguyễn Đức T9, đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch.
Như vậy, tại thời điểm năm 2004, vợ chồng ông K cùng các con đã làm nhà và ở ổn định trên diện tích đất tranh chấp cho đến nay. Quá trình ông K cùng vợ con ở trên đất thì không bị ai ngăn cản, tranh chấp. Hiện nay, bị đơn ông T5 cũng xác định việc gia đình ông K ở trên đất thì ông không có ý kiến gì và cũng không ngăn cản, ông đồng ý để vợ và các con ông K tiếp tục ở trên đất và sử dụng đất (vì ông K đã chết ngày 09/10/2023).
[3.4] “Giấy sang nhượng lô thổ cư” lập ngày 16/10/2004 xét về nội dung là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là cụ T9, cụ S1, bên được tặng cho là ông K (cháu nội). Khi lập hợp đồng tặng cho, cụ T9 và cụ S1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng này chưa thực hiện xong (do bên được tặng cho chưa đăng ký biến động sang tên quyền sử dụng đất) và có nội dung phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Theo quy định tại Điều 688 Bộ luật dân sự 2015, Tòa án áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự 2015 để giải quyết. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên chưa được công chứng, chứng thực là chưa tuân thủ quy định về hình thức của hợp đồng. Khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.
Từ khi được tặng cho, vợ chồng ông K đã làm nhà trên đất và sinh sống tại đó. Như vậy, các bên đã thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Căn cứ quy định trên, Hội đồng xét xử quyết định công nhận hiệu lực của hợp đồng, ông K đủ điều kiện để được công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được tặng cho.
[4] Xét văn bản phân chia tài sản thừa kế, được chứng thực ngày 02/4/2010.
[4.1] Sau khi cụ T9 và cụ S1 chết không để lại di chúc, các con của hai cụ là bà P, ông T, ông T5, ông L1, bà L4, bà H1 lập văn bản phân chia di sản thửa kế, thống nhất giao cho vợ chồng ông T5 được quyền sử dụng các thửa đất mà cha mẹ để lại, trong đó có diện tích 1.470m² mà khi còn sống, cụ T9 và cụ S1 đã tặng cho ông K ½ diện tích đất này.
[4.2] Ông K trình bày lý do ông chưa được sang tên chủ sử dụng đối với phần đất được tặng cho là do sau khi ông bà nội chết, ông K có làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vì con của ông T5 (là anh em chú bác với ông K) làm việc tại Ủy ban xã H nên ông K đưa toàn bộ hồ sơ giấy tờ cho con ông T5 làm giúp. Đến năm 2017, ông K bị tai nạn nên vợ ông K đến nhà hỏi ông T5 về sổ đỏ thì mới được biết phần đất này đã làm sổ đỏ cho ông T5, bà T7 vào ngày 27/5/2010.
[4.3] Ông Nguyễn Đức T và ông Nguyễn Đức L1 là con của cụ T9, cụ S1 trình bày việc cha mẹ các ông tặng cho một nửa thửa đất số 172 và 172A cho ông K thì các anh, chị em trong gia đình đều biết và thống nhất. Thời điểm ông T5 làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T và ông L1 đều nghĩ rằng hai ông ký vào các văn bản là để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận cho ông K, do tin tưởng trên đất đang có nhà do vợ chồng ông K và do bản thân thiếu hiểu biết lại lớn tuổi nên các ông đã ký toàn bộ giấy tờ ông T5 đưa mà không đọc kỹ nội dung. Còn bà H1 và bà L4 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng các bà không đến Tòa và không cung cấp lời khai. Phía ông K có nộp một tờ giấy vở học sinh có dòng chữ ghi “tôi có nghe cha tôi cho cháu tôi Nguyễn Đức K đất làm nhà ở” có chữ ký và chữ viết họ tên của bà Nguyễn Thị H1 và Nguyễn Thị L4. Đối với bà Nguyễn Thị P, quá trình giải quyết vụ án bà đã chết ngày 18/12/2021 nên Tòa án đã bổ sung người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà vào tham gia tố tụng nhưng những người này đều không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ông K.
[4.4] Xét thấy, từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến khi chết, cụ T9 và cụ S1 chỉ lập một văn bản duy nhất thể hiện ý chí tặng cho ½ diện tích đất là tài sản của hai cụ cho cháu nội là ông K tại “Giấy sang nhượng lô thổ cư” lập ngày 16/10/2004. Ngoài ra, không có văn bản nào thay thế “Giấy sang nhượng lô thổ cư” lập ngày 16/10/2004 hoặc tài liệu, chứng cứ nào thể hiện sự thay đổi ý chí của cụ T9, cụ S1. Tại thời điểm lập văn bản phân chia di sản, gia đình ông K đang sinh sống trên đất nhưng khi thỏa thuận phân chia lại không có ý kiến của ông K. Văn bản phân chia tài sản thừa kế được chứng thực ngày 02/4/2010 đã thỏa thuận giao cho ông T5, bà T7 có quyền sử dụng đất đối với cả phần đất mà khi còn sống cụ T9 và cụ S1 tặng cho ông K là trái với ý chí của cụ T9, cụ S1 và trái pháp luật. Do vậy, văn bản phân chia tài sản thừa kế này bị vô hiệu một phần. Mặc dù nguyên đơn không yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản phân chia tài sản thừa kế vô hiệu, nhưng nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất mà quyền sử dụng đất này các bên đã thỏa thuận trong văn bản phân chia tài sản thừa kế để lại cho bị đơn nên khi Tòa án đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì sẽ tuyên bố văn bản phân chia di sản thừa kế vô hiệu. Việc Tòa án tuyên vô hiệu văn bản này không vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu được công nhận quyền sử dụng diện tích 752m². Diện tích đo đạc thực tế thửa đất số 172 theo Mảnh trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đ1 lập ngày 15/6/2021 là 1.453,3m². Sau khi có kết quả đo đạc, nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với ½ diện tích đất đo đạc thực tế và không có ý kiến gì về việc chênh lệch diện tích so với Giấy chứng nhận. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào diện tích đo đạc thực tế để giải quyết.
Nguyên đơn ông K đã chết, những người thừa kế của ông K (gồm cha, mẹ, vợ, con) thống nhất giao diện tích đất tranh chấp cho bà T6 và chị T3, anh T4 sử dụng. Thỏa thuận này phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[6] Đối với yêu cầu bị đơn chấm dứt hành vi tranh chấp: Nguyên đơn có yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, khi yêu cầu này đã được giải quyết và bản án có hiệu lực pháp luật thì bị đơn không có quyền tranh chấp nữa. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định yêu cầu này của nguyên đơn trùng với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.
[7] Về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Đức T5 và bà Phan Thị T7:
Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T5, bà T7 thể hiện Văn phòng đăng ký đất đai và UBND xã H phối hợp lập biên bản kiểm tra hiện trạng đất vào ngày 21/4/2010, thể hiện trên diện tích đất kiểm tra có căn nhà diện tích 42 m². Gia đình ông K đang sinh sống tại căn nhà này, khi không có ý kiến của ông K mà đã kết luận đất không có tranh chấp là không đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, UBND huyện T cấp giấy chứng nhận cho ông T5, bà T7 trên cơ sở văn bản phân chia di sản thừa kế, mà văn bản này bị tuyên vô hiệu một phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy giấy chứng nhận đã cấp cho ông T5, bà T7
[8] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn.
[9] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000₫, chi phí đo đạc là 2.549.800đ, tổng là 4.549.800đ. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông T5 phải chịu những chi phí này. Toàn bộ những chi phí này đều do nguyên đơn đóng tạm ứng nên ông T5 phải hoàn trả lại cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 34, Điều 147, 157, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính;
- - Điều 123, 129, 688 Bộ luật dân sự 2015;
- - Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức K (ông K đã chết, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị Xuân T6, chị Nguyễn Thị Xuân T3, anh Nguyễn Đức T4).
- - Công nhận hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản giữa cụ Nguyễn Đức T9, cụ Nguyễn Thị S1 và ông Nguyễn Đức K được thể hiện tại “Giấy sang nhượng lô thổ cư” lập ngày 16/10/2004.
- - Tuyên bố văn bản phân chia tài sản thừa kế giữa bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Đức T, ông Nguyễn Đức T5, ông Nguyễn Đức L1, bà Nguyễn Thị L4, bà Nguyễn Thị H1 được UBND xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận chứng thực ngày 02/4/2010 vô hiệu một phần (1/2 diện tích thửa đất số 172, 172A).
- - Bà Nguyễn Thị Xuân T6, chị Nguyễn Thị Xuân T3, anh Nguyễn Đức T4 được quyền sử dụng diện tích đất 726,9m² (trong đó có 189 m² đất ở) thuộc thửa 523 được giới hạn bởi các mốc tọa độ 3-4-5-6 theo Mảnh trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đ1 lập ngày 13/8/2024.
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 792932 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Đức T5 và bà Phan Thị T7 ngày 27/5/2010.
- Bà Nguyễn Thị Xuân T6, chị Nguyễn Thị Xuân T3, anh Nguyễn Đức T4 có quyền và trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Đức T5 phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Xuân T6, chị Nguyễn Thị Xuân T3, anh Nguyễn Đức T4 chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc là 4.549.800 đồng.
-
Về án phí:
- - Ông Nguyễn Đức K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Nguyên Thị Xuân T2, chị Nguyễn Thị Xuân T3, anh Nguyễn Đức T4 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004650 ngày 24/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh.
- - Ông Nguyễn Đức T5 được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/9/2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quản |
Bản án số 51/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 51/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông Nguyễn Đức Khánh khởi kiện ông Nguyễn Đức Tiến
