|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2024/DS-PT Ngày: 9/7/2023 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại sức, tổn thất tinh thần, tài sản bị xâm phạm. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Gia
Các Thẩm phán: Ông Ngô Chịu và ông Lê Trúc Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hải Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên: Bà Trần Thị Thu Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 9 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 07/2024/DS-PT ngày 29/01/2024 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khoẻ, tổn thất tinh thần, tài sản bị xâm phạm”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 72/2023/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 29/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Lê Phát L, sinh năm 1940. Vắng mặt.
Địa chỉ: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Minh L1, sinh năm: 1947; địa chỉ: Khu phố P, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên (Theo văn bản uỷ quyền được UBND xã H xác nhận ngày 19/2/2014). Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Hương Q, Luật sư – Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh P. Địa chỉ: Số C, đường M, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt. - Bị đơn: Ông Lê Quang T, sinh năm 1983 và ông Lê Văn C, sinh năm 1957; cùng địa chỉ: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Bà Võ Thị N, sinh năm 1955. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1951. Vắng mặt.
- Ông Lê Trung H, sinh năm 1972. Vắng mặt.
- Bà Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1977; địa chỉ: Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
Người kháng cáo: Nguyên đơn Lê Phát L.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn Lê Phát L trình bày: Nguyên nguồn gốc đất tranh chấp tại đội H, thôn P, xã H, huyện P có từ thời ông bà ông để lại, ông quản lý sử dụng từ năm 1975 đến nay. Quá trình sử dụng ông, bà ông đã trồng tre từ trước, sau đó cha ông rồi đến ông tiếp tục sử dụng và khai thác tre. Đầu năm 2020, các ông bà Lê Quang T, Lê Văn C và Võ Thị N chặt hết tre, đổ đất đá làm con đường đi sử dụng vào nhà. Theo đo đạc thực tế thì diện tích đất các ông bà T, C và Nhinh lấn chiếm của ông là 357,3m². Nguyên đơn khởi kiên yêu cầu Toà án giải quyết buộc các bị đơn Lê Quang T, Lê Văn C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Võ Thị N phải: Bồi thường thiệt hại tài sản 500 cây tre, mỗi cây trị giá 80.000đ vì đã chặt sát gốc, tổng cộng 40.000.000đ; bồi thường đối với tre mới trồng lại nên chưa bán được mỗi năm 40.000.000đ trong vòng 10 năm là 400.000.000đ. Tổng cộng 440.000.000đ; Nhổ hết các trụ bê tông và vận chuyển hết toàn bộ đất, đá đã đổ lên phần diện tích đất 357,3m² đi nơi khác để trả lại hiện trạng và diện tích đất cho ông.
Tại các phiên hoà giải và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu các bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vận chuyển hết toàn bộ đất, đá đã đổ lên phần diện tích đất 357,3m² đi nơi khác để trả lại hiện trạng và diện tích đất cho ông.
Đối với các yêu cầu phản tố của các bị đơn, ông không chấp nhận.
* Các bị đơn Lê Quang T, Lê Văn C trình bày: Ông L chưa cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Ông cho rằng gia đình chúng tôi chặt tre của ông là không đúng vì tre là của gia đình chúng tôi nên chúng tôi không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Tại thời điểm chặt tre thì ông Lê Phát L, vợ chồng các con ông L gồm: Lê Thị Thanh T2, Lê Thị T3, Lê Thị T4 và các con cháu ông L gồm: Phan Văn Đ, Phan Quốc B; Lê Trung H, Nguyễn Văn T5 và một số người chưa xác định danh tính đã mang theo hung khí đánh ông T, ông C, ném đất, đá về phía nhà ông T, ông C làm hư hỏng 130 trụ bê tông mới mua về đặt trên đất của gia đình ông T, ông C tại P, Hòa Thắng trị giá 7.800.000đ; ông Lê Phát L và ông Phan Văn Đ dùng rựa và xẻng phá hủy 01camera trị giá 2.090.000đ và 01 đầu ghi hình trị giá 2.500.000đ. Nay ông T yêu cầu nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Trung H, Lê Thị Thanh T2 phải bồi thường tổng số tiền 12.390.000đ thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; ông C yêu cầu nguyên đơn phải bồi thường 89.000.000đ về khoản thiệt hại sức khoẻ, tổn thất tinh thần và phải xin lỗi gia đình ông công khai tại thôn P và UBND xã H, huyện P.
* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ủy ban nhân dân xã H, huyện P trình bày: Đoạn đường này dài khoảng 30m, nối đoạn đường từ nhà ông Ung N1 đến đường giao thông chính (Đường từ QL B - Cầu L), phần diện tích đất mở lối đi mới có hiện trạng là một mương con không còn sử dụng và hàng tre đã bị chặt phá. Qua kiểm tra xác minh đoạn này không sử dụng vào mục đích đường đi. Đất do UBND xã quản lý tại thửa đất số 675, tờ bản đồ 349A. Phần đất này do xã quản lý không giao cho hộ nhưng tạm thời hộ ông Lê Phát L có cây cối, hoa màu trên phần đất đó vẫn thu hoạch về cây cối hoa màu.
Bà Võ Thị N trình bày thống nhất như yêu cầu phản tố của bị đơn Cư.
Ông Lê Trung H, bà Lê Thị Thanh T2 trình bày: Việc ông T cho rằng ông H, bà T2 cùng với ông L tham gia phá camera, trụ bê tông, đầu ghi hình thì hai ông, bà khẳng định là không biết vụ việc này và cũng không tham gia đập phá những vật như ông T đã trình bày và không chấp nhận bồi thường.
Bà Nguyễn Thị T1 do ông Lê Phát L đại diện trình bày: Thống nhất như lời trình bày của ông L.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 72/2023/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, điểm a, Khoản 1, Điều 35, điểm a, Khoản 1, Điều 39, 147, 227, 228, 271và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 100, 166, 170 và 203 Luật đất đai năm 2013; các Điều 584, 585, 589, 590, 592 và 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12, 24,26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Lê Phát L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T1 về việc yêu cầu ông Lê Văn C, ông Lê Quang T và bà Võ Thị N trả lại diện tích đất 357,3m² và thực hiện việc vận chuyển 445,2m³ đất, đá đi nơi khác để trả lại nguyên hiện trạng đất như ban đầu (tại thửa đất số 675, tờ bản đồ 349A); tọa lạc tại thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.[Có sơ đồ kèm theo (sơ đồ này là một phần không tách rời bản án)].
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Văn C yêu cầu ông Lê Phát L phải bồi thường tiền gây ra thiệt hại sức khỏe, tổn thất tinh thần cho ông Lê Văn C, ông Lê Quang T và bà Võ Thị N số tiền 89.000.000đ và công khai xin lỗi tại chính quyền địa phương.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Quang T yêu cầu ông Lê Phát L, ông Lê Trung H và bà Lê Thị Thanh T2 bồi thường thiệt hại tài sản bị xâm phạm số tiền 12.390.000đ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí; quy định thi hành án và thời hạn kháng cáo của đương sự.
Ngày 11/12/2023 và ngày 25/12/2023 nguyên đơn kháng cáo yêu cầu chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện (bao gồm cả phần tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm).
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và đơn kháng cáo.
Bị đơn T và C không đồng ý việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện và đơn kháng cáo của nguyên đơn của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm của Thẩm phán, HĐXX và những người tham gia tố tụng là đúng quy định. Về nội dung vụ: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 308 BLTTDS tuyên huỷ bản án sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giảo quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Trong vụ án, cấp sơ thẩm thụ lý có quan hệ “Tranh chấp quyền sử dụng đất” nhưng các biên bản hoà giải tại UBND xã nơi có đất tranh chấp thiếu thành phần “Ủy ban M2 cấp xã” theo quy định tại khoản 3 Điều 202 Luật đất đai.
[1.2] Cấp sơ thẩm xác định bà Võ Thị N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhưng theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà N phải là bị đơn trong vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Tại hồ sơ vụ án thể hiện: Bị đơn Lê Quang T đã có đơn tố giác tội phạm đối với nguyên đơn Lê Phát L và các con của ông L về hành vi: Huỷ hoại tài sản và cố ý gây thương tích đối với bị đơn theo thủ tục hình sự. Vụ đã được Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Phú Yên thụ lý và ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết tin báo tội phạm. Tuy nhiên, cũng nội dung này cấp sơ thẩm đã thụ lý yêu cầu phản tố và đã tuyên xử bác đơn yêu cầu phản tố của bị đơn T là có vi phạm pháp luật tố tụng.
[1.4] Ngày 02/06/2020, nguyên đơn Lê Phát L có đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản (tre). Tại các buổi hòa giải và tại phiên toà, nguyên đơn Lợi tự nguyện rút yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản nhưng cấp sơ thẩm không nhận định, không quyết định đình chỉ giải quyết đối phần yêu cầu này là vi phạm Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.5] Tại phiên toà, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và đơn kháng cáo, nhưng các bị đơn không đồng ý nên không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 299 BLTTDS.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn trình bày đất có nguồn gốc từ ông bà để lại, trên đất đã trồng tre từ lâu là phù hợp với lời khai của những người làm chứng Lê Thị Hồng H1, Nguyễn thị H2, Võ B1 và Hồ Minh L1. Ngược lại, bị đơn trình bày nguồn gốc đất là của ông bà của bị đơn để lại là phù hợp với lời khai của những người làm chứng Lê C1, Nguyễn Thị M, Lê Thị M1 và Ngô Thị T6. Đối với các giấy xác nhận của các ông Hồ Minh L1, Ung M thể hiện hàng tre thuộc về đất của ông Lê Phát L. Tuy nhiên, các giấy xác nhận và các lời khai làm chứng nêu trên cũng chỉ là lời trình bày, không phải là tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền sử dụng đất đang tranh chấp là của nguyên đơn hay của bị đơn.
Các bên đương sự đều thừa nhận diện tích đất đang tranh chấp không ai đứng tên đăng ký kê khai tại UBND cấp có thẩm quyền. Tại Biên bản xác minh và tại công văn số 681/UBND ngày 6/9/2023 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện P xác định diện tích đất đang tranh chấp thuộc thửa 675, tờ bản đồ 349A, loại đất NTD (nghĩa địa) đất do UBND xã quản lý. Đất này không giao cho hộ nhưng tạm thời ông Lê Phát L có cây cối, hoa màu trên phần đất đó vẫn thu hoạch về cây cối hoa màu.
Ngày 16/4/2024, Toà án cấp phúc thẩm tiến hành đo đạc và thẩm định lại hiện trạng diện tích đất đang có tranh chấp, nhưng phía bị đơn cản trở, cương quyết không cho đo đạc. Tại biên bản xác minh cùng ngày, UBND xã H, huyện P trình bày cụ thể hơn: Qua kiểm tra lại toạ độ các mốc giới thể hiện tại bản vẽ do Hội đồng định giá cấp sơ thẩm thực hiện, UBND xã H xác định phần diện tích từ mốc toạ độ số 7 về hướng Tây dài 2,88m đến các mốc 8-9-10-11-12 (giáp từ mốc toạ độ số 12 về hướng Tây khoản 2 đến 3m) nguồn gốc đất là đường đi do UBND xã H quản lý. Các mốc toạ độ này không thuộc về thửa đất lân cận nào và địa phương cũng không nhận được khiếu nại hay tranh chấp nào liên quan đến ranh giới này. Như vậy, phần diện tích đất có tranh chấp còn lại theo bản vẽ do cấp sơ thẩm đo vẽ thuộc thửa đất số 675, tờ bản đồ số 349A (nay là thửa 71, tờ bản đồ 21) là loại đất nghĩa địa do UBND xã H quản lý, là phù hợp với hồ sơ địa chính và các nội dung mà UBND xã H đã cung cấp trước đây có tại hồ sơ vụ án.
Theo bản vẽ do cấp sơ thẩm thực hiện thì diện tích đất đang tranh chấp được tách thành 02 phần gồm: phần diện tích đất thuộc đường đi cũ do Nhà nước quản lý, không thuộc thửa đất nào và phần diện tích đất còn lại thuộc thửa đất số 675 cũng do Nhà nước quản lý; cả hai phần diện tích đất này đều không thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn và bị đơn. Tuy nhiên, diện tích đất và khối lượng đất, đá cụ thể của từng phần là bao nhiêu thì phía nguyên đơn không nêu ra được nên cấp sơ thẩm chưa xác định đúng bản chất phạm vi khởi kiện; cấp phúc thẩm đã thành lập Hội đồng thẩm định và đo vẽ để khắc phục nhưng phía bị đơn kiên quyết từ chối, cản ngăn.
Tại công văn số 84/TA-TDS ngày 16/4/2014 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên gửi Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện P để xác định nội dung nêu trên, đã quá thời hạn nhưng Chi nhánh Văn phòng vẫn không trả lời. Mặc khác, UBND xã H cho rằng toàn bộ diện tích đất các bên đương sự đang có tranh chấp (gồm cả hai phần) là của UBND xã đứng tên kê khai quản lý, nhưng không thể hiện ý kiến gì đối với nội dung tranh chấp, dù cho Toà án cấp phúc thẩm đã trực tiếp làm việc và phía Uỷ ban có cam kết đến ngày 19/4/2024 sẽ có văn bản thể hiện ý kiến của mình nhưng sau đó vẫn không thực hiện, vì UBND xã H, huyện P là một bên đương sự trong vụ án. Đây là những tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm, nên nên cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà để huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Phú Hoà giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[3] Đối với những nội dung khác của bản án, các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nhưng bản án sơ thẩm đã bị huỷ nên chưa phát sinh hiệu lực.
[4] Án phí: Các bên đương sự không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.
[5] Chi phí tố tụng: Sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Huỷ toàn bộ Bản án sơ thẩm số 72/2023/DS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân huyện Phú Hoà, tỉnh Phú Yên để giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
- Án phí và chi phí tố tụng: Sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: Đương sự; VKSND tỉnh Phú Yên; TAND huyện Phú Hoà; TANDCC tại Đà Nẵng; Chi cục THADS Phú Hoà; Lưu: HSVA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Cao Gia |
Bản án số 51/2024/DS-PT ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại sức, tổn thất tinh thần, tài sản bị xâm phạm
- Số bản án: 51/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại sức, tổn thất tinh thần, tài sản bị xâm phạm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Lê Phát Lợi và ông lê Quang Tân
