|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 51/2023/HS-ST Ngày 28 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Thạo;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Thành; ông Vi Quang Thái.
Thư ký phiên tòa: Bà Sầm Thị Thao – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện S, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn C - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2023/TLST - HS, ngày 13 tháng 11 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Phùn Văn T, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1993 tại huyện S, tỉnh Bắc Giang (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phùn Văn G, sinh năm 1966 và bà Hoàng Thị C1, sinh năm 1966; có vợ: Hoàng Thị L, sinh năm 1990 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 11/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Động ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 05/QĐ- TA, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 02 năm. Ngày 15/10/2021, T đã chấp hành xong.
Nhân thân:
- Ngày 10/8/2018 bị Công an xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính với hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 14/8/2018, bị chủ tịch UBND xã T, huyện S quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng về hành vi xử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 09/10/2023, tạm giam từ ngày 13/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn H, sinh năm 1992 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 35 phút, ngày 09/10/2023, tại trước cửa quán ăn Đ, thuộc thôn T, xã C, huyện S, tỉnh Bắc Giang, Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S phát hiện, kiểm tra đối với Phùn Văn T, quá trình kiểm tra T ném từ tay phải xuống dưới cống, cách mép đường Quốc lộ 31 khoảng cách 20cm một gói giấy được gói bằng 02 vé xe buýt màu vàng số 0153311, số 0153312, 01 vé xe buýt màu xanh số 0114911, bên trong có 01 mảnh túi nilon đựng 01 đoạn ống nhựa màu xanh, 01 đoạn ống nhựa màu hồng, đều được hàn kín hai đầu, 01 túi nilon màu trắng dược hàn kín, bên trong đoạn ống nhựa và túi nilon đều chứa chất cục bột màu trắng, T khai chất cục bột màu trắng là ma túy, loại Heroine. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phùn Văn T, thu giữ, niêm phong 02 vé xe buýt màu vàng số 0153311, số 0153312, 01 vé xe buýt màu xanh số 0114911 và 01 mảnh túi nilon vào phong bì thư ký hiệu “A”,
Niêm phong 01 đoạn ống nhựa màu xanh, 01 đoạn ống nhựa màu hồng, đều được hàn kín hai đầu, 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, bên trong đoạn ống nhựa và túi nilon đều chứa chất cục bột màu trắng vào phong bì thư ký hiệu “B” rồi đưa T cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an huyện S.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phùn Văn T nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội của T.
Ngày 10/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với chất cục bột màu trắng đã thu giữ của T.
Tại Kết luận giám định số 1939/KL-KTHS ngày 13/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu “B” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó có 01 đoạn màu xanh và 01 đoạn màu hồng) là chất ma túy, có tổng khối lượng 0,143g, loại Heroine; Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) đoạn túi nilon màu trắng được hàn kín là chất ma túy, có khối lượng 0,249g, loại Heroine).
Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 13/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố Phùn Văn Thái về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Phùn Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2023.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát luận tội, bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án, trong giai đoạn điều tra, truy tố. Hội đồng xét xử thấy: Điều tra viên, Kiểm sát viên, đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có hành vi, quyết định tố tụng nào vi phạm quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Tại phiên toà bị cáo khai như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 09/10/2023, T gặp H tại thôn T, xã C, huyện S. Do quen biết nhau nên H gọi T lại nhờ T đi mua ma túy hộ nên T đồng ý. H và T bắt xe buýt tuyến S - Bắc Giang đến thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang với mục đích mua ma túy. Trên xe buýt H đưa cho T 600.000 đồng để T mua ma túy. Khi đến khu vực thôn B, xã B, T và H cùng xuống xe. Tại đây, H đứng đợi còn T đi mua ma túy, T gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ, T hỏi mua của người đàn ông này 600.000 đồng tiền ma túy loại Heroine), người đàn ông đó đồng ý, T đưa cho người đàn ông 600.000 đồng, người đó đưa cho T 01 đoạn ống nhựa màu xanh, 01 đoạn ống nhựa màu hồng, đều được hàn kín hai đầu; 01 túi nilon màu trắng, được hàn kín, bên trong đều chứa chất cục bột màu trắng là ma túy Heroine. Sau khi mua được ma túy, T cầm số ma túy quay lại chỗ H đưa số ma túy này cho H nhưng H bảo T cầm, rồi cả hai cùng nhau bắt xe buýt đi về xã C để sử dụng. Khi đến trước cửa quán ăn Đ tại thôn T, xã C, huyện S thì bị Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S bắt giữ. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, bị cáo không kêu oan.
[3] Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma tuý của nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương, người sử dụng ma túy là một trong những nguyên nhân lây lan một số bệnh nguy hiểm và phát sinh các tội phạm khác. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,392gam H, như vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Phùn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 51/CT–VKS ngày 13/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động truy tố Phùn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Xét về nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy:
[4.1] Nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2018 đã bị Công an xã T, huyện S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Chủ tịch UBND xã T, huyện S quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã C tháng về hành vi xử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không thay đổi, tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4.3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
Quá trình diều tra và tại phiên tòa, T khai Nguyễn Văn H đưa cho T 600.000 đồng nhờ T mua ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa T và H nhưng H không thừa nhận lời khai của T, không có chứng cứ nào chứng minh H đưa tiền nhờ T đi mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý đối với H về hành vi đồng phạm với T.
Đối với người đàn ông ở xã B, huyện L đã bán ma túy cho T, T khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, không thể nhận dạng được người này nên có căn cứ để xử lý.
[5] Vật chứng của vụ án gồm có: 01 đoạn ống nhựa màu xanh, 01 đoạn ống nhựa màu hồng, 01 túi nilon màu trắng đều được hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy, loại Heroine còn lại sau giám định, 03 vé xe buýt đều đã được niêm phong theo quy định đây là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành và là những vật không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
[6] Án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Xử phạt: Phùn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2023.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn ống nhựa màu xanh, 01 đoạn ống nhựa màu hồng đều được hàn kín hai đầu, 01 túi nilon màu trắng được hàn kín, bên trong chứa chất ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư lý hiệu “B” đã được niêm phong; 02 vé xe buýt màu vàng số 0153311, số 0153312, 01 vé xe buýt màu xanh số 0114911 và 01 mảnh túi nilon được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “A”.
- Bị cáo Phùn Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thạo |
Bản án số 51/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 51/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PHÙN VĂN THÁI TÀNG TRỮ MA TÚY
