|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 04-02-2021
V/v tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Lâm Sơn;
- Ông Tôn Phước Thuận.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang, Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 694/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 633/2020/QĐXX-ST ngày 29 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; có mặt
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hùng D, sinh năm 1984; nơi cư trú: ấp N, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Võ Thị H trình bày: Bà và ông Nguyễn Hùng D tự nguyện chung sống với nhau năm 2009, hôn nhân do mai mối, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Trong quá trình chung sống, bà và ông D sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, không có tiếng nói chung. Bà và ông D ly thân từ năm 2014 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay bà Võ Thị H xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hùng D.
Về con chung: Bà và ông D có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 21/02/2011; Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 26/01/2013; hiện hai con chung do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung. Không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Nguyễn Hùng D đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông D vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã trình bày. Bị đơn, ông Nguyễn Hùng D vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị H với ông Nguyễn Hùng D. Bà Võ Thị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 (hai) con chung; ông Nguyễn Hùng D không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do ông Nguyễn Hùng D đang cư trú tại xã N, huyện C, tỉnh An Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2]. Về quan hệ pháp luật: Bà Võ Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hùng D, yêu cầu được nuôi con chung. Đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về tư cách, sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Hùng D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông D.
* Về nội dung:
[4]. Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông D tự nguyện sống chung với nhau năm 2009, đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 235 ngày 22/12/2010 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang cấp. Vì vậy, hôn nhân giữa bà H và ông D là hợp pháp. Quá trình chung sống, bà và ông D bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, ông D không quan tâm đến vợ con, bà và ông D không còn sống chung từ năm 2014 đến nay. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.
[5]. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 21/02/2011; Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 26/01/2013. Hiện cháu N, cháu H do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà H là được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N, cháu H.
[6]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[7]. Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[8]. Về nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[10]. Về án phí: Bà Võ Thị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, khoản 4 Điều 147; Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Võ Thị H. Giấy chứng nhận kết hôn số 235 ngày 22 tháng 12 năm 2010 do Ủy ban nhân dân xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho bà H, ông D không còn giá trị pháp lý.
Về quan hệ con chung: Bà Võ Thị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 (hai) con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 21/02/2011; Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 26/01/2013. Ông Nguyễn Hùng D không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Võ Thị H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Hùng D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Võ Thị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008962 ngày 12 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới. Bà H đã nộp đủ.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng ông D vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
|
Nơi nhận: - VKSND H. Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - UBND xã N; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Thi |
Bản án số 51/2021/HNGĐ-ST ngày 04/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 51/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/02/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Võ Thị Hồng yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hùng D, yêu cầu nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết
