|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số 50a/2024/DS-PT Ngày 28/5/2024 “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
- Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga và ông Trần Văn Lam
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 147/2022/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2022/DS-ST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 92/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Hồ Ngọc L, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1954; cùng địa chỉ: khối T, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Ông Hồ Ngọc L uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị C. Ông L vắng mặt, bà C có mặt.
Bị đơn: Ông Đậu Đăng Đ, sinh năm 1976; địa chỉ: Khối B, thị trấn K, Q, Nghệ An, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Thị A và Trần Thị Thủy C1, Văn phòng L2; địa chỉ: Số C, T, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Đậu Đăng T, sinh năm 1974; địa chỉ: khối B, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- + Bà Đậu Thị V, sinh năm 1970, địa chỉ: khối B, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Ông Đậu Đăng T và bà Đậu Thị V uỷ quyền cho ông Đậu Đăng Đ tham gia tố tụng, giải quyết toàn bộ vụ án tại Toà án.
- + Bà Hà Thị H, sinh năm 1951; địa chỉ: khối N, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- + Chị Ngân Thị H1, sinh năm 1977; địa chỉ: khối N, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- + Chị Ngân Thị G, sinh năm 1980; địa chỉ: Nhà A - D - Tổ D - Thanh Xuân B - T - Hà Nội; vắng mặt.
- + Ông Phan Văn H2, sinh năm 1972 và bà Thái Thị X, sinh năm 1975, cùng địa chỉ: Khối B, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An; ông H2 vắng mặt, bà X có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm vụ án có nội dung:
Tại đơn khởi kiện ngày 04/7/2020, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C trình bày:
Ngày 28/4/2003, vợ chồng ông, bà được vợ chồng ông Ngân Văn H3 và bà Hà Thị H cùng khối T chuyển nhượng cho một mảnh đất thửa số 07, tờ bản đồ số 2 thuộc khối B, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Mảnh đất có tứ cận như sau: Phía Nam giáp Quốc lộ D (cũ) nay là Quốc lộ A dài 13m; Phía Đông giáp bờ rào nhà ông Đậu Đăng D (nay là vườn nhà ông T, ông Đ) dài 70m; Phía Bắc giáp vườn nhà ông L1, dài 13m; Phía Tây giáp vườn ông Nguyễn Xuân T1, dài 70m. Mảnh đất có tổng diện tích là 910m² (chín trăm mười mét vuông) có hồ sơ và hợp đồng, đơn xin chuyển nhượng kèm theo. Ông, bà đã trả tiền đầy đủ cho ông Ngân Văn H3 và bà Hà Thị H.
Từ khi được nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông, bà đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của người được chuyển nhượng đất theo hợp đồng mà hai bên đã ký, có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn K. Thống nhất ngăn ranh giới mảnh đất giữa hai gia đình, đóng cột mốc và giăng thép gai để làm hàng rào.
Năm 2004, vợ chồng ông, bà đã chuyển nhượng cho ông Phan Văn H2 và bà Thái Thị X 01 phần đất có diện tích 245m². (chiều dài: 35m, chiều rộng: 7m).
Năm 2005, thực hiện chủ trương nâng cấp mở rộng đường Quốc lộ 48 vợ chồng ông, bà cũng được nhận tiền đền bù theo biên bản kiểm kê hiện trạng và tài sản trên đất do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án. Hồ sơ đã được phê duyệt. Ông D, bà T2 cũng đều nhất trí, không xảy ra tranh chấp giữa các hộ liền kề.
Đến năm 2012, vợ chồng ông, bà tiến hành xây dựng tường rào bảo vệ đất thì ông Đậu Đăng Đ và ông Đậu Đăng T (con trai ông D, bà Tân nay đã chết) ra ngăn cản không cho vợ chồng ông, bà xây dựng tường bao trên mảnh đất đã chuyển nhượng. Nhiều lần ông, bà có đơn lên các cấp có thẩm quyền giải quyết, Ủy ban nhân dân thị trấn K tổ chức hòa giải và thành lập đoàn đo đạc xác định ranh giới đất giữa 2 bên. Quá trình giải quyết Ủy ban nhân dân thị trấn K đều kết luận mảnh đất đang tranh chấp có chiều dài 70m, chiều rộng 13m, tổng diện tích 910m².
Mặc dù, ông Đ không đưa ra được chứng cứ gì về diện tích của mảnh đất đó ngoài tờ hợp đồng photocopy diện tích bị tẩy xóa từ 910m² sửa chữa thành 210m². Vì vậy, ông Đ, ông T và bà V vẫn dây dưa, cản trở.
Nay ông, bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xem xét, giải quyết buộc ông Đậu Đăng Đ trả lại mảnh đất có diện tích là 910m². Sau khi đã trừ diện tích giải phóng mặt bằng: 83,07m² nên diện tích chuyển nhượng còn lại là: 826,93m². Theo đo đạc thực tế bằng máy toàn đạc điện tử ngày 22/7/2021 có tứ cận cụ thể như sau: Hướng đông bắc giáp đất ông D (đã chết), (nay ông Đậu Đăng T, ông Đậu Đăng Đ quản lý sử dụng là con ông D) với chiều dài là 65,68m; Hướng tây nam giáp nhà chị Võ Thị M với chiều dài 63,72m; Hướng đông nam giáp đường quốc lộ 16 với chiều dài 13m; Hướng tây bắc giáp đất nhà ông D (nay ông T quản lý sử dụng là con ông D) với chiều dài 13m. Có tổng diện tích đất là: 760,5 m²; (Trong đó, Nhà H4 - X đang quản lý sử dụng có diện tích 241,6m; còn lại 518,9m²).
Bị đơn là ông Đậu Đăng Đ trình bày: Ông là con đẻ của ông Đậu Đăng D và bà Nguyễn Thị T3 (bố chết vào ngày 17/10/2011 và mẹ chết ngày 08/01/2009). Bố, mẹ ông sinh được 03 chị em gồm: Chị Đậu Thị V, sinh năm 1970, anh Đậu Đăng T, sinh năm 1974 và ông Đậu Đăng Đ, sinh năm 1976. Vào năm 1992 bố ông ốm nặng gia đình không đủ tiền lo thuốc viện phí cho bố, nên mẹ ông (bà Nguyễn Thị T3) lên vay tiền của bà Hà Thị H ở khối I, thị trấn K, huyện Q với số tiền 8.000.000 (tám triệu) đồng và đã trả được 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Lúc đó anh là Đậu Đăng T đi làm ăn xa còn ông trả tiền lãi hàng tháng cho bà H. Năm 1996 hết hạn trả nợ, bà H xuống nhà đòi nợ và gia đình khó khăn không trả được nên bố, mẹ ông đã trả nợ bằng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (trả nợ bằng đất) cho ông Ngân Văn H3 và bà Hà Thị H với diện tích là 210m2 ở (khối A) nay là khối B, thị trấn K, tỉnh Nghệ An. Ông cũng không nhớ thời gian bố ông đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H3, bà H.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn luật sư Trần Thị A và Trần Thị Thủy C1: Thống nhất với ý kiến trình bày của ông Đậu Đăng Đ và không bổ sung thêm gì.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị H trình bày: Vào ngày 27/4/1998 bà và ông Ngân Văn H3 (chồng bà) được ông Đậu Đăng D (là bố đẻ của bà Đậu Thị V, ông Đậu Đăng T và ông Đậu Đăng Đ) chuyển nhượng cho một thửa đất có diện tích là 910m, chiều dài giáp đường 48 là 13m, chiều sâu vào giáp nhà bà T4 là 70m. Khi đó hai bên thỏa thuận giá đất là 8.000.000 (Tám triệu) đồng. Ông D và bà T3 có vay của bà và ông H3 8.000.000 đồng, do không có tiền trả nên ông D và bà T3 đã đồng ý gạt đất để trả nợ. Vợ chồng bà đã thanh toán tiền đầy đủ cho ông Đậu Đăng D và bà Nguyễn Thị T3. Vì bà T3 là người trực tiếp đi vay tiền 8.000.000 đồng. Ông D và bà T3 là người trực tiếp giao đất cho vợ chồng bà. Đến ngày 28/4/2003 thì vợ chồng bà chuyển nhượng lại lô đất đó cho ông Hồ Ngọc L, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1954 với giá là 27.000.000 (Hai mươi bảy triệu) đồng nhưng bớt cho 200.000 đồng, nên ông L, bà C đã trả đủ 26.800.000 (Hai mươi sáu triệu, tám trăm nghìn) đồng. Vợ chồng bà đã bàn giao lại đất đó cho vợ chồng ông L, bà C. Từ khi vợ chồng bà được chuyển nhượng từ ông Đậu Đăng D, bà T3 cho đến lúc chuyển nhượng lại cho ông Hồ Ngọc L bà Nguyễn Thị C thì thửa đất đó không có tranh chấp. Khi ông Đậu Đăng D chuyển nhượng cho vợ chồng bà thì ông Đậu Đăng D đã làm rào phân cách thửa đất chuyển nhượng cho vợ chồng bà bằng cột bê tông và dây thép gai. Chồng bà là ông Ngân Văn H3 đã chết năm 2013. Bà và ông Ngân Văn H3 có 03 người con gồm chị Ngân Thị H1, sinh năm 1977, chị Ngân Thị G, sinh năm 1980 và anh Ngân Mạnh H5, sinh năm 1982 (Anh Ngân Mạnh H5 đã chết năm 2003). Theo bà trong hợp đồng chuyển nhượng ngày 27/4/1998 có tây xóa từ 910m2 thành 210m2 là do ông Lữ Đình V1 địa chính thời điểm đó tẩy xóa để tránh nộp thuế nhiều. Thực tế ông Đậu Đăng D bà Nguyễn Thị T3 chuyển nhượng mảnh đất cho vợ chồng bà là 910m, chiều rộng giáp đường 13m và chiều dài 70m không bị tẩy xóa. Sau đó vợ chồng bà đã chuyển nhượng lại 910m2 cho vợ chồng ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C. Nay bà không yêu cầu gì về mảnh đất đã chuyển nhượng cho ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C. Bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ngân Thị H1, Ngân Thị G trình bày: Hai chị là con đẻ của bà Hà Thị H và ông Ngân Văn H3, ông Ngân Văn H3 đã mất năm 2013. Bố mẹ các chị có chuyển nhượng mảnh đất cho ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C, mảnh đất tại (khối A), nay là khối B, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An lúc đó chị đang còn nhỏ và đang đi học nên không biết vì đó là tài sản của bố mẹ. Nay chị không yêu cầu gì về thửa đất đó. Chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đậu Thị V, ông Đậu Đăng T trình bày: Ông, bà là con đẻ của ông Đậu Đăng D và bà Nguyễn Thị T3; ông Đậu Đăng D chết ngày 17/10/2011 và bà Nguyễn Thị T3 chết ngày 08/01/2009. Bố mẹ bà mất để lại một thửa đất tại khối B, thị trấn K, huyện Q, hiện do ông Đậu Đăng T quản lý. Sau khi bố bà mất thì anh, chị, em của bà sắp xếp lại nhà cửa thì mới phát hiện ra 01 (một) giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất (phô tô); bố bà bán cho bà Hà Thị H và ông Ngân Văn H3 diện tích là 210m². Nay ông, bà ủy quyền cho ông Đậu Đăng Đ được toàn quyền quyết định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Phan Văn H2 và bà Thái Thị X thống nhất trình bày: Vào năm 2004, ông, bà có mua của ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C một phần thửa đất số 07 tờ bản đồ 02, có địa chỉ tại (K) nay là Khối B, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An với diện tích: 245m² (hai trăm bốn mươi lăm mét vuông) cụ thể như sau: Phía đông giáp quốc lộ D là 7m; Phía bắc giáp đất ông L dài 35m; Phía tây bắc giáp đất ông L rộng 7m; Phía tây nam giáp đất ông T1 dài 35m. Theo giấy xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/05/2004 được UBND thị trấn K xác nhận. Năm 2010, vợ chồng ông, bà tiến hành làm nhà và sinh sống tại đó cho tới nay không có ai tranh chấp với vợ chồng ông Hồ Ngọc L, bà Nguyễn Thị C.
Nay ông, bà đề nghị Toà án xem xét giải quyết giao cho ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C phần diện tích đất của vợ chồng ông, bà đã mua của ông L, bà C và tài sản gắn liền với đất để ông L và bà C tham gia các giai đoạn tố tụng của tòa án nhân dân các cấp. (Tại thời điểm đang diễn ra tranh chấp của các bên nguyên đơn và bị đơn đang được tòa án thụ lý và giải quyết; ông, bà sẽ không yêu cầu hay tranh chấp, khiếu nại gì. Nếu sau này khi có Bản án, Quyết định của tòa án nhân dân các cấp có hiệu lực ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C vẫn phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đối với phần diện tích đất đã bán cho vợ chồng ông, bà. Nếu được Toà án chấp nhận cho ông L và bà C phải có trách nhiệm liên hệ và hỗ trợ vợ chồng ông, bà đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, để quyền và lợi ích hợp của vợ chồng ông, bà được pháp luật bảo vệ.
Bản án số 02/2022/DSST ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Quế Phong đã quyết định: Căn cứ Điều 129; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Án lệ số 04/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Điều 202 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/4/1998 giữa ông Đậu Đăng D và ông Ngân Văn H3 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện bằng đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/4/2003 giữa ông Ngân H3 và ông Hồ Ngọc L là hợp pháp.
Buộc ông Đậu Đăng T, ông Đậu Đăng Đ và bà Đậu Thị V trả lại cho vợ chồng ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C diện tích đất là 760,5m² tại thửa đất số 7 tờ bản đồ địa chính số 02.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 06/10/2022, ông Đậu Đăng Đ làm đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử bác đơn khởi kiện của ông Hồ Ngọc L và bà Đậu Thị C2.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Đậu Đăng Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Nguyên đơn không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đậu Đăng Đ đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và các bên đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Đậu Đăng Đ, sửa bản án sơ thẩm về phần án phí và chi phí tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa phúc thẩm. Xét kháng cáo của bị đơn ông Đậu Đăng Đ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bị đơn ông Đậu Đăng Đ làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định nên xác định kháng cáo hợp lệ.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do, không có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228, 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Đậu Đăng Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về nguồn gốc của thửa đất tranh chấp:
Căn cứ lời trình bày của các đương sự, các biên bản hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân thị trấn K và các tài liệu được cung cấp, thu thập có trong hồ sơ, có cơ sở xác định: Thửa đất số 07, tờ bản đồ số 2 địa chỉ khối B, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An có nguồn gốc là một phần của thửa đất do ông Đậu Đăng D và bà Nguyễn Thị T3 sử dụng, quản lý từ năm 1984.
[2.2] Xét các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 07, tờ bản đồ số 02 địa chỉ khối B, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An
[2.2.1] Về nội dung của giao dịch:
Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 27/4/1998, có nội dung: Nay do con đi xa, ông bà già yếu thiếu vốn làm ăn nên tôi nhường lại miếng đất dài 70m (bảy chục), rộng 13m (mười ba). Xin chuyển nhượng cho ông Ngân Văn H3, xóm I, thị trấn K, Q. Người làm đơn Đậu Đăng D, các thành viên đồng sử dụng: con Đậu Đăng Đ, vợ Ng Thị T5. Ý kiến của UBND nơi có đất xin chuyển nhượng: Ủy ban nhân dân thị trấn K đề nghị cơ quan chức năng cấp thẩm quyền làm thủ tục chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ mới theo Luật đất đai hiện hành. TM. UBND thị trấn T.
Giấy chuyển nhượng đất lập ngày 27/4/1998 có nội dung: Tên tôi Đậu Đăng D, xóm A, B, thị trấn K, huyện Q. Thay mặt gia đình nhượng cho bà Hà Thị H xóm I, thị trấn K, h. Q số đất 13m (mười ba mét) đo từ phía Tây sang miếng đất phía Đông Nam giáp đường 48, Phía T giáp anh T6, phía Tây Bắc giáp ông bà T4, phía Tây Bắc giáp nhà anh Đ. Vậy tôi làm giấy này hai bên làm bằng chứng (ghi chú rộng 13m, dài 70m). Ngày 27/4/1998. Người làm giấy ký tên Đậu Đăng D, viết tên Đ, người nhận Hà Thị H.
Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 29/4/2003 giữa ông Ngân Văn H3 và ông Hồ Ngọc L, có nội dung: Tên tôi là Ngân Văn H3 là người đại diện chủ sử dụng đất. Chúng tôi đang sử dụng thửa đất số 07, tờ bản đồ số 01, thuộc khối A, thị trấn K, Q. Thực trạng của mảnh đất như sau: Phía Nam rộng 13m giáp đường Quốc lộ 48; phía Đông dài 70m giáp bờ rào ông Đậu Đăng D, Phía Bắc rộng 13m giáp bờ rào ông L1; Phía Tây dài 70m giáp bờ rào ông Nguyễn Xuân T1. Có tổng diện tích là 910m2 (chín trăm mười m2). Nay tôi viết đơn chuyển quyền sử dụng cho: ông, bà Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C với diện tích 910m2. Lý do chuyển nhượng: Gia đình khó khăn nuôi con ăn học. Người làm đơn ký: Ngân Văn H3, người được chuyển nhượng ký Hồ Ngọc L. Khối trưởng khối 1 xác nhận nội dung: Đơn chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Ngân Văn H3 là đúng sự thực (đất của ông H3 được chuyển nhượng từ ông Đậu Đăng D từ năm 1998). Vậy BCS khối chứng thực tạo điều kiện để ông Hồ Ngọc L và gia đình sử dụng đúng pháp luật. Khối 1, ngày 29/4/2003. T7 khối Đinh Văn Đ1.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Đậu Đăng Đ không thừa nhận chữ ký, chữ viết của ông Đậu Đăng D cũng như chữ Đậu Đăng Đ trên đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 4 năm 1998 nên đã đề nghị Trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết đứng tên Đậu Đăng D dưới mục “NGƯỜI LÀM ĐƠN” có phải do cùng một người viết ra hay không? và các chữ Đậu đăng đương dưới mục “CÁC THÀNH VIÊN ĐỒNG SỬ DỤNG” có phải do cùng một người viết ra hay không? Kết luận giám định số 289/C09-P5; Hà Nội, ngày 04/11/2021 kết luận về đối tượng giám định: Chữ ký, chữ viết Đậu Đăng D dưới mục “NGƯỜI LÀM ĐƠN” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết đứng tên Đậu Đăng D trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 do cùng một người viết và kỷ ra. Các chữ Đậu đăng đương dưới mục “CÁC THÀNH VIÊN ĐỒNG SỬ DỤNG” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết của Đậu Đăng Đ trên mẫu so sánh ký hiệu kỵ hiệu M5 do cùng một người viết ra.
[2.2.2] Về hình thức của giao dịch: Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa gia đình ông D và ông H3, giữa ông H3 và ông L được thể hiện bằng các giấy tờ gồm: Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 27/4/1998 có chữ ký của chủ sử dụng đất Đậu Đăng D và các thành viên đồng sử dụng Đậu Đăng Đ và Nguyễn Thị T3, có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn K. Giấy chuyển nhượng đất lập ngày 27/4/1998, có chữ ký của ông Đậu Đăng D và bà Hà Thị H (vợ ông H3); Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 27/4/1998, có chữ ký của ông Đậu Đăng D và ông Ngân Văn H3, xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn K; Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 29/4/2003, có chữ ký của ông Ngân Văn H3, Hồ Ngọc L và xác nhận của khối trưởng khối A, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
[2.2.3] Về việc thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Căn cứ lời trình bày của các đương sự, quá trình quản lý, sử dụng đất từ năm 1998 đến nay và hiện trạng của thửa đất tranh chấp, có cơ sở xác định:
Ngày 27/4/1998 ông Đậu Đăng D đã chuyển nhượng cho ông Ngân Văn H3 và bà Hà Thị H một phần của thửa đất với kích thước rộng 13m, dài 70m.
Sau khi nhận chuyển nhượng đất từ ông D vào ngày 27/4/1998, ông H3 đã quản lý, sử dụng sử dụng ổn định liên tục cho đến năm 2003, thửa đất có hàng rào bao quanh. Năm 2003, ông H3 chuyển nhượng lại cho ông Hồ Ngọc L, ông Đậu Đăng D và bà Nguyễn Thị T3 đều đang sống nhưng không có tranh chấp. Năm 2004, ông L chuyển nhượng một phần diện tích thửa đất cho anh Phan Văn H2, chị Thái Thị X với diện tích 245m². Năm 2010, anh H2, chị X làm nhà ở cho đến nay. Năm 2005, ông Hồ Ngọc L, bà Nguyễn Thị C được đền bù giải phóng mặt bằng làm đường. Khi anh H2, chị X làm nhà ở, ông Đậu Đăng D còn sống và không có ý kiến gì. Đến năm 2012 ông Đậu Đăng D mất thì giữa ông L, bà C và ông Đậu Đăng T, ông Đậu Đăng Đ và bà Đậu Thị Văn x ra tranh chấp.
Như vậy, căn cứ Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 27/4/1998, Giấy chuyển nhượng đất lập ngày 27/4/1998, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 27/4/1998, có cơ sở xác định: Ngày 27/4/1998 ông Đậu Đăng D đã chuyển nhượng cho ông Ngân Văn H3 và bà Hà Thị H một phần thửa đất mà ông D, bà T3 đã quản lý sử dụng từ năm 1984 tại (khối A), nay là khối B, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thửa đất có tứ cận như sau: 13m (mười ba mét) đo từ phía Tây sang miếng đất phía Đông Nam giáp đường 48, Phía T giáp anh T6, phía Tây Bắc giáp ông bà T4, phía Tây Bắc giáp nhà anh Đ... (ghi chú rộng 13m, dài 70m). Trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 27/4/1998 không ghi rõ kích thước chiều dài, chiều rộng, phần diện tích có sự sửa chữa (lấy bút xóa xóa số ghi cũ, lấy bút bi ghi số ghi mới). Tuy nhiên, căn cứ Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 27/4/1998, Giấy chuyển nhượng đất lập ngày 27/4/1998 là các giấy tờ được lập cùng thời điểm ông D chuyển nhượng cho ông H3 và sự thừa nhận của ông Lữ Đình V1 (cán bộ địa chính của UBND thị trấn K tại thời điểm hợp đồng giữa ông Đậu Đẳng D1 và ông Ngân Văn H3 được ký) về việc ông V1 sửa đổi 910m² thành 210m² trong đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/4/1998 với lý do để ông Ngân Văn H3 không phải nộp thuế nhiều trong quá trình sử dụng đất sau này. Hai bên chuyển nhượng thực tế là 910m² (vì chiều rộng 13m và chiều dài 70m không bị tẩy xóa). Vì vậy, có cơ sở xác định diện tích ông D1 chuyển nhượng cho ông H3 là 910m2 (tương ứng kích thước rộng 13m, dài 70m). Sau khi nhận chuyển nhượng, ông H3 đã làm bờ rào, sử dụng ổn định liên tục cho đến năm 2003 thì chuyển nhượng lại cho ông Hồ Ngọc L.
Mặt khác, căn cứ tài liệu quản lý đất đai của Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện Q, thể hiện : Năm 2001, Ủy ban nhân dân thị trấn K tiến hành lập hồ sơ kỹ thuật đối với thửa đất số 07, tờ bản đồ số 02, chủ sử dụng đất là ông Ngân Văn H3 và lập hồ sơ kỹ thuật đối với thửa đất số 07, tờ bản đồ số 02, chủ sử dụng đất là ông Đậu Đăng D, ông H3 ông D đều ký tên xác nhận vào hồ sơ kỹ thuật của các thửa đất nêu trên. Năm 2005, Ủy ban nhân dân thị trấn K tiến hành đo đạc xác định ranh giới, mốc giới đối với thửa đất của ông H3 và thửa đất ông D; biên bản xác định ranh giới, mốc giới có sơ họa mốc giới thửa đất, các chủ sử dụng đất liền kề với đất của ông H3 có ông D và ông Nguyễn Văn T8 ký tên, các chủ sử dụng đất liền kề với đất của ông D có ông H3 và ông Nguyễn Văn S ký tên. Do đó, có cơ sở xác định: Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông D, ông H3 đã thực hiện việc quản lý, sử dụng đối với phần đất nhận chuyển nhượng. Năm 2001 lập hồ sơ kỹ thuật thửa đất, năm 2005 lập Biên bản xác nhận ranh giới mốc giới thửa đất (theo hiện trạng sử dụng) có kèm theo sơ đồ kỹ thuật thửa đất, các bên đã thống nhất với nhau về diện tích và ranh giới mốc giới của thửa đất, không có tranh chấp, khiếu nại gì.
Mặc dù, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Ngân Văn H3 và ông Đậu Đăng D ngày 27/4/1998 và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện bằng đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Ngân Văn H3 và ông Hồ Ngọc L ngày 28/4/2003 với diện tích chuyển nhượng thực tế là 910m2 đã có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện Q nhưng các bên không đăng ký chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là không tuân thủ các quy định về hình thức của hợp đồng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, có đủ cơ sở xác định các đương sự đã giao nhận đất, giao nhận tiền, người nhận chuyển nhượng đã sử dụng đất từ khi chuyển nhượng cho đến nay.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm b.3, tiểu mục 2.3 mục 2 phần II nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của HĐTP Tòa án dân tối cao, điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đậu Đăng D và ông Ngân Văn H3 ký ngày 27/4/1998 và công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện bằng đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Ngân Văn H3 và ông Hồ Ngọc L ký ngày 28/4/2003 với diện tích 910m² là có cơ sở và đúng pháp luật.
Căn cứ Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ lập ngày 22/7/2021 thì diện tích thực tế ông L, bà C quản lý sử dụng còn lại là 760,5m² (trong đó đất của ông L, bà C là 518,9 m²; đất của ông L bà C đã bán cho anh H2, chị X là 241,6m²). Trong quá trình giải quyết vụ án anh Phan Văn H2 và chị Thái Thị X đã đề nghị giao lại phần diện tích đất của vợ chồng anh, chị đã mua của ông L, bà C và toàn bộ tài sản gắn liền với đất để ông L, bà C tham gia các giai đoạn tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Đậu Đăng Đ, ông Đậu Đăng T và bà Đậu Thị V trả lại cho vợ chồng ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C diện tích đất 760,5m² là có cơ sở.
Ngoài ra, trong vụ án này Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất và bị đơn là ông Đậu Đăng Đ nhưng bản án buộc ông Đậu Đăng T và bà Đậu Thị V (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ và trưng cầu giám định cùng bị đơn là không đúng theo quy định tại Điều 157, 161, 165 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Do đó, cần sửa bản án về phần án phí và chi phí tố tụng khác.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đậu Đăng Đ, sửa bản án sơ thẩm về phần án phí dân và chi phí tố tụng khác.
[3] Án phí: Kháng cáo của ông Đ được chấp nhận một phần, do đó ông Đ không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Đậu Đăng Đ, sửa bản án sơ thẩm về phần án phí và chi phí tố tụng.
- Căn cứ Điều 129, 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Án lệ số 04/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Điều 202 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/4/1998 giữa ông Đậu Đăng D và ông Ngân Văn H3 là hợp pháp.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện bằng “đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/4/2003 giữa ông Ngân Văn H3 và ông Hồ Ngọc L” là hợp pháp.
- Buộc ông Đậu Đăng T, ông Đậu Đăng Đ và bà Đậu Thị V trả lại cho vợ chồng ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C diện tích đất 760,5m² tại thửa đất số 7 tờ bản đồ địa chính số 02 có tứ cận như sau: Hướng Đông Bắc giáp nhà ông Đậu Đăng T dài 65,68m; Hướng Tây Nam giáp nhà bà Võ Thị M dài 63,72m; Hướng Tây Bắc giáp đất ông Đậu Đăng T dài 13m; Hướng Đông Nam giáp đường quốc lộ 16 dài 13m (có sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm).
Ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí và các chi phí tố tụng:
- 3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đậu Đăng Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- 3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Đậu Đăng Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả cho ông Đ 300.000đ tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại Biên lai tạm thu án phí lệ phí Tòa án số 0006120 ngày 12/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Phong.
- 3.3. Chi phí tố tụng: Ông Đậu Đăng Đ phải trả lại cho ông Hồ Ngọc L và bà Nguyễn Thị C 10.000.000đ (mười triệu đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Ông Đậu Đăng Đ phải chịu 10.000.000đ (mười triệu đồng) tiền chi phí Trưng cầu giám định, ông Đ đã nộp đủ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 50a/2024/DS-PT ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 50a/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất L Đ
