|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Công Lực.
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Minh Tấn;
bà Trần Thị Thắm.
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 456/2023/TLPT-DS ngày 07/11/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 25/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 445/2023/QĐ-PT ngày 27/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2023/QĐ-PT ngày 14/12/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Phạm Thị G, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Phan Thanh N, sinh năm 1980; địa chỉ: số A đường Đ, khu phố E, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương (văn bản ủy quyền ngày 26/10/2022). Ông N có mặt.
- Bị đơn:
+ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Ông C vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Bà Trần Thị H, sinh năm 1989; địa chỉ: số nhà B tổ A, ấp N, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Bà H có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà H: ông Nguyễn Xuân H1, Luật sư thuộc Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: P, lầu B tòa nhà N số C T, Phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Luật sư H1 có mặt.
- Người kháng cáo: bị đơn ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị G và lời trình bày của người đại diện ông Phan Thanh N trong quá trình tham gia tố tụng: Bà G và bà H, ông C có hợp tác kinh doanh nhiều năm. Quá trình kinh doanh bà H, ông C có nợ bà G số tiền 10.750.000.000 đồng. Việc vay nợ có làm giấy tờ và bà H có ký vào giấy vay số tiền 5.100.000.000 đồng vào ngày 10/5/2022, ông C có ký vào giấy nợ số tiền 5.650.000.000 đồng ngày 01/9/2022. Mặc dù bà G đã nhiều lần yêu cầu, nhưng bà H, ông C vẫn không trả. Nay, bà G yêu cầu bà H, ông C trả số tiền 10.750.000.000 đồng.
* Tại bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị H trình bày: Bà H thừa nhận có nợ số tiền 5.100.000.000 đồng của bà G, chữ ký, chữ viết trong giấy vay tiền là của bà H. Đối với số tiền 5.650.000.000 đồng thì ông C với bà G nợ thế nào thì bà H không biết. Nay, với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà không đồng ý trả số nợ 5.650.000.000 đồng.
* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày: Ông C thừa nhận có nợ số tiền 5.100.000.000 đồng của bà G. Số tiền 5.650.000.000 đồng mà nguyên đơn khởi kiện thì chữ ký, chữ viết, giấy nhận nợ là của ông C viết, ký. Nhưng đây là tiền lãi cộng với khoản nợ 5.100.000.000 đồng chứ không phải khoản nợ riêng giữa bà G và ông C. Nay, với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông không đồng ý trả số nợ 5.650.000.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 25/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị G đối với bị đơn bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn C về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Buộc bị đơn bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn C liên đới trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị G số tiền 10.750.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu tiền lãi do chậm thi hành án, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 07/8/2023, bị đơn bà Trần Thị H và ông Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn; bị đơn bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm. Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Luật sư của bị đơn bà H trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm đã có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như sau: không đưa chồng bà G vào tham gia tố tụng là bỏ sót người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; Biên bản hòa giải ngày 04/7/2023 ghi “...các đương sự thống nhất được việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án...” là không đúng vì thực tế các bên đương sự không thống nhất được nội dung nào và hòa giải không thành; Biên bản đối chất ghi ngày 04/7/2022 là không đúng thời gian vì đến ngày 15/11/2022 Tòa án mới thụ lý vụ án. Về chứng cứ, Tòa án cấp sơ thẩm không làm rõ có việc giao nhận tiền vay hay không. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm bà H có cung cấp chứng cứ mới là nội dung cuộc gọi điện thoại và tin nhắn qua lại trên Zalo giữa bà H và bà G và các chứng cứ này chưa được làm rõ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn và hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện P để xét xử lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án: Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày tranh tụng của các bên đương sự, Luật sư và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về hướng giải quyết vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Đơn kháng cáo của bị đơn ông C và bà H được thực hiện trong thời hạn luật định và đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo nên kháng cáo là hợp lệ.
[1.3] Ông C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt ông C.
[2] Về nội dung:
[2.1] Nguyên đơn bà G khởi kiện ông C, bà H yêu cầu thanh toán tổng số tiền 10.750.000.000 đồng theo 02 chứng cứ bao gồm: giấy vay tiền ngày 10/5/2022 của bà Trần Thị H có nội dung “có mượn” số tiền 5.100.000.000 đồng được bà H ký tên, điểm chỉ vân tay; giấy vay tiền ngày 01/9/2022 của ông Nguyễn Văn C có nội dung “có mượn” số tiền 5.650.000.000 đồng được ông C ký tên, điểm chỉ. Bà G đã cung cấp bản chính 02 giấy vay tiền cho Tòa án đối chiếu với bản sao đã nộp.
[2.2] Về phía bị đơn bà H và ông C đều thừa nhận các giấy vay (mượn) tiền nêu trên do bà H và ông C ký và điểm chỉ, nhưng cho rằng số tiền 5.650.000.000 đồng ghi trong Giấy vay tiền ngày 01/9/2022 của ông C là tiền gốc của Giấy vay tiền ngày 10/5/2022 và tiền lãi tính từ ngày 10/5/2022 đến ngày 01/9/2022. Bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.3] Xét các chứng cứ mà bà G cung cấp là bản gốc được bị đơn thừa nhận. Bị đơn cho rằng Giấy vay tiền ngày 01/9/2022 là bao gồm số tiền gốc của Giấy vay tiền ngày 10/5/2022 và tiền lãi của số tiền này chứ không phải là số nợ mới nhưng không cung cấp được chứng cứ nào để chứng minh. Mặt khác, 02 giấy vay tiền này là do bà H và ông C độc lập ký mượn, không có nội dung nào của Giấy vay tiền ngày 01/9/2022 đề cập đến số tiền gốc 5.100.000.000 đồng của Giấy vay tiền ngày 10/5/2022 của bà H nên không thể xác định lời trình bày của bị đơn là có căn cứ.
[2.4] Bị đơn kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm đưa ra các chứng cứ mới là nội dung tin nhắn và trao đổi trên điện thoại và mạng xã hội Zalo giữa bà H và bà G, nhưng xét thấy những nội dung trao đổi này không có liên quan hoặc không có nội dung nào thể hiện rõ ràng là 02 khoản vay tiền thực chất là 01 khoản vay như bị đơn trình bày. Việc giao nhận tiền do các bên tự chọn phương thức thực hiện vì pháp luật không quy định hình thức giải ngân, hình thức giao nhận tiền vay giữa các cá nhân với nhau. Cả 02 giấy vay tiền đều ghi rõ “có mượn” là đã thể hiện có các khoản vay này. Về thủ tục tố tụng, những sai sót về soạn thảo văn bản tố tụng như Luật sư trình bày chỉ là lỗi nhầm lẫn khi đánh máy soạn thảo văn bản, không phải là vi phạm thủ tục nghiêm trọng và không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Người chồng của bà G (nếu có) có tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay không cũng không làm thay đổi bản chất vụ việc và kết quả giải quyết vụ án.
[2.5] Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo có căn cứ và hợp pháp. Các khoản tiền vay được các bị đơn sử dụng vào hoạt động kinh doanh, làm kinh tế của gia đình. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn bà Trần Thị H và ông Nguyễn Văn C phải liên đới thanh toán số tiền 10.750.000.000 đồng cho bà G là có căn cứ, phù hợp với chứng cứ thu thập được. Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền lợi của bà H không có cơ sở chấp nhận.
[3] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông C, bà H phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật do bản án sơ thẩm được giữ nguyên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 71, 92, 147, 148, 266, 271, 273, khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 357, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử:
-
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 25/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương như sau:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị G đối với bị đơn bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn C về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc bị đơn bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn C liên đới trả cho nguyên đơn bà Phạm Thị G số tiền 10.750.000.000 đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Nguyên đơn bà Phạm Thị G không phải chịu án phí; được nhận lại số tiền 56.500.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008613 ngày 08/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P và 56.825.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004957 ngày 21/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P.
- - Bị đơn bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn C phải nộp 118.750.000 đồng.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị G đối với bị đơn bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn C về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
-
Về án phí dân sự phúc thẩm:
- - Ông Nguyễn Văn C phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005382 ngày 09/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bình Dương.
- - Bà Trần Thị H phải chịu số tiền 300.000 đồng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005383 ngày 09/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Bình Dương.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, việc tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Công Lực |
Bản án số 456/2023/TLPT-DS ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 456/2023/TLPT-DS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bác kháng cáo của bị đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm
