TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 509/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-4-2024
V/v không công nhận quan hệ vợ chồng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm;
- Bà Lê Thị Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ung Tuấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh: Không tham gia.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1100/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/4/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1977.
- Bị đơn: Ông Lê Hoàng M, sinh năm 1962.
Địa chỉ: D ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.
Địa chỉ: 1 đường T, Khu phố G, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai, trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là bà Trần Thị Kim L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Kim L và ông Lê Hoàng M tự nguyện chung sống như vợ chồng từ năm 2005 nhưng không đăng ký kết hôn.
Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng sau đó đời sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên tranh cãi gay gắt. Ông bà đã cố gắng hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả, tình cảm vợ chồng không còn, bà và ông M không sống chung như vợ chồng từ năm 2007 đến nay.
Bà L nhận thấy cuộc sống hôn nhân như vợ chồng với ông M không có hạnh phúc, mâu thuẫn không giải quyết được, nên bà yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng với ông M để cả hai sớm ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Minh N, sinh ngày: 15/11/2006. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ M1 đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có. Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà L tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Tại bản tự khai, trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là ông Lê Hoàng M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông xác nhận toàn bộ nội dung trình bày nêu trên của bà L về thời gian sống chung như vợ chồng giữa ông và bà L là hoàn toàn đúng. Ông và bà L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2005 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, ông bà có xảy ra nhiều tranh cãi gay gắt do bất đồng quan điểm. Ông M nhận thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn giữa hai vợ không thể giải quyết được, nên ông đồng ý với yêu cầu của bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng để cả hai sớm ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Minh N, sinh ngày: 15/11/2006, ông M đồng ý giao con chung cho bà Trần Thị Kim L nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi bà L có yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự khai không có. Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà L tự nguyện chịu toàn bộ án phí.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn: Có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến, yêu cầu tại đơn khởi kiện.
Bị đơn: Có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến, đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa bà Trần Thị Kim L và ông Lê Hoàng M là không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn được quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình, tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông M có nơi cư trú tại huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn bà Trần Thị Kim L và bị đơn ông Lê Hoàng M vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm và đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về quan hệ vợ chồng: Bà Trần Thị Kim L và ông Lê Hoàng M tự nguyện chung sống với nhau từ năm từ năm 2005 nhưng không đăng ký kết hôn theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ giữa bà Trần Thị Kim L và ông Lê Hoàng M không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại Khoản 1, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình.
Nay cả bà Trần Thị Kim L và ông Lê Hoàng M đều xác định cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn gay gắt, tình cảm của ông bà không còn, không hàn gắn được. Bà L và ông M đã không chung sống với nhau từ năm 2007. Điều này cho thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn giữa ông M và bà L không thể giải quyết được, nên ông bà yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng là có cơ sở chấp nhận. Căn cứ quy định Điều 14, Khoản 2 Điều 52 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị Kim L và ông Lê Hoàng M.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình giải quyết, bà L và ông Minh xác n có 01 con chung tên Lê Minh N, sinh ngày 15/11/2006. Hiện nay, trẻ Minh N đang sống cùng với bà Trần Thị Kim L tại địa chỉ D ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, bà L đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu N. Ông M đồng ý với việc tiếp tục giao cháu N cho bà Trần Thị Kim L nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi trưởng thành, ông không cấp dưỡng nuôi con cho đến khi bà L có yêu cầu. Hội đồng xét xử xét thấy việc bà L và ông M thống nhất về việc nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và Gia đình và Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự, phù hợp với điều kiện thực tế cuộc sống, không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội và phù hợp với nguyện vọng của trẻ Lê Minh N nên được chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Hai đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Tòa án không tiến hành xem xét.
[2.4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Kim L là nguyên đơn yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227; Điều 228; Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 53; các Điều 58, 81, 82, 83; khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Kim L.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị Kim L và ông Lê Hoàng M.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Minh N, sinh ngày 15/11/2006. Giao cháu Lê Minh N cho bà Trần Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi trẻ N trưởng thành.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Lê Hoàng M cho đến khi bà L có đơn yêu cầu.
Ông M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Bà L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của ông M nếu việc thăm nom cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Trong trường hợp có căn cứ Cha, mẹ; Người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hai đương sự khai không có. Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Kim L phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số AA/2022/0017466 ngày 09/11/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Hóc Môn. Bà L đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Kim L và ông Lê Hoàng M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 509/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 509/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng
