|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 509/2025/HS-PT Ngày: 10 - 6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lê Na
Các Thẩm phán: Ông Trương Thành Trung
Ông Nguyễn Ngọc Huân
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Quang Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 280/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H và các đồng phạm đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Đỗ Văn H, sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn A, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đỗ Văn H1 và bà Hoàng Thị P; Vợ: Trần Thị Thái N; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Hữu D, sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Hữu T và bà Nguyễn Thị X; Vợ: Lê Thị Thúy N1; Có 01 con sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Tất L, sinh năm 2002; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Tất L1 và bà Phùng Thị P1; Vợ Phạm Thị Thanh T1.
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện tại ngoại tại địa phương. Vắng mặt.
- Họ và tên: Đỗ Văn L2, sinh năm 1999; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn L, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thị D1; Vợ: Nguyễn Trần Thảo L3; Có 01 con sinh năm 2019;
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo cho bị cáo Đỗ Văn L2: Luật sư Nguyễn Thị L4 – Công ty L5 – Đoàn Luật sư thành phố H. Vắng mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Vũ N2, sinh năm 1992; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Vũ M và bà Đào Thị Đ1; Vợ: Nguyễn Thị H2; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2024;
Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có bị hại là Công ty TNHH một thành viên C không có kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH MTV C (Công ty C), địa chỉ trụ sở chính: Số A, đường Đ, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Đ2 và mở Chi nhánh của Công ty tại Hà Nội, địa chỉ trụ sở chính: Tầng B, tháp C tòa nhà C, số B đường T, Y, Cầu G, Hà Nội được thành lập hoạt động từ ngày 14/6/2018. Công ty C - Chi nhánh H5 có các bưu cục trực thuộc, trong đó có Bưu cục C1, địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện C, thành phố Hà Nội.
Quy trình làm việc của các nhân viên chuyển phát tại Bưu cục C1: Hàng ngày trước 8 giờ sáng các nhân viên bưu tá có mặt tại Bưu cục C1 để chấm công, sau đó sử dụng các máy IDATA quét mã nhận hàng (hàng là các hộp cát tông được gói kín bằng băng dính bên ngoài có ghi mã hàng, địa chỉ người nhận), quét mã hàng sẽ được đẩy lên phần mềm J&T sprinter được cài đặt sẵn trên điện thoại của các nhân viên bưu tá, sẽ đi giao hàng theo tuyến được phân công. Khi hàng đến tay người nhận các nhân viên bưu tá có trách nhiệm thu tiền hàng được hiển thị trên phần mềm J&T, chụp ảnh gửi về hệ thống qua phần mềm đã được cài đặt sẵn và mang số tiền thu được về nộp cho chị Nguyễn Thị Kim H3 là Kế toán của bưu cục C1 vào 14 giờ hoặc 18 giờ hàng ngày. Đến 21 giờ hàng ngày nhân viên bưu tá không về nộp tiền thu hộ thì nhân viên kế toán sẽ gọi điện thoại đôn đốc và báo cáo lên cấp trên.
Quá trình hoạt động, Công ty C - Chi nhánh H5 có ký kết Hợp đồng học việc và Hợp đồng lao động với 05 người để làm việc tại Bưu cục C1 gồm: Nguyễn Tất L; Nguyễn Hữu D; Nguyễn Vũ N2; Đỗ Văn H và Đỗ Văn L2.
Sau đó, Bưu cục C1 giao nhiệm vụ cho các nhân viên bưu tá gồm có: L, H, N2, D và L2 nhận hàng tại bưu cục, trực tiếp đi giao hàng cho các khách hàng theo mã số, địa chỉ trên hàng và nhận tiền hàng nộp lại cho kế toán của bưu cục theo quy định Công ty. Tiền lương Công ty trả hàng tháng cộng thêm tiền khi giao hàng thành công cho mỗi đơn hàng. Quá trình thực hiện nhiệm vụ nhận và giao hàng, nhiều lần Nguyễn Tất L, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Vũ N2, Đỗ Văn H và Đỗ Văn L2 giao hàng và nhận tiền của khách hàng, nhưng không nộp lại tiền cho Bưu cục C1, mà chiếm đoạt số tiền đã thu được rồi sau đó nghỉ việc. Công ty, Bưu cục nhiều lần liên lạc với L, D, N2. H và L2 đến làm việc và thanh toán tiền thu của khách hàng cho Công ty, nhưng đều không được. Cụ thể từ ngày 18/01/2021 đến ngày 30/11/2021, L, D, N2. H và L2 đã chiếm đoạt tiền như sau:
- Đỗ Văn H khai nhận: Ngày 01/9/2020, H ký hợp đồng lao động số 002649-20/HĐLĐ với ông FANG HONG YUAN – Giám đốc Chi nhánh H5 - Công ty C, Hợp đồng Lao động không kỳ hạn, mức lương 4.641.000đồng/01 tháng và cộng thêm 5000 đồng/đơn hàng giao thành công, đến làm việc tại Bưu cục C1 - Công ty C từ ngày 01/9/2020 đến ngày 19/01/2021. H đã nhận đủ lương hàng tháng từ kế toán của bưu cục. Trong 02 ngày 18 và 19/01/2021, H nhận 37 đơn hàng đi giao hàng cho khách (nhưng không nhớ cụ thể tên khách hàng và địa chỉ), H thu được tổng số tiền là 30.652.614 đồng, nhưng H không nộp tiền ngay cho Công ty mà vẫn giữ tiền lại. Ngày 20/01/2021, H tự nghỉ việc, số tiền thu của khách được 30.652.614 đồng H chi tiêu cá nhân hết. Công ty đã liên lạc yêu cầu nhưng H không đến trả tiền. Sau khi, Cơ quan điều tra triệu tập H đến làm việc nhiều lần, ngày 19/4/2022, Đỗ Văn H đã tự nguyện trả lại số tiền 30.652.614 đồng cho Công ty C.
- Nguyễn Hữu D khai nhận: Ngày 06/9/2021, D ký hợp đồng học việc số 074390-21/HĐHV với ông ông Đào Đình H4 – Giám đốc Chi nhánh H5 - Công ty C, Hợp đồng có thời hạn 03 tháng, mức lương 7.000.000 đồng/01 tháng và cộng thêm từ 3.000 đồng đến 4.000 đồng/ đơn hàng giao thành công, đến làm việc và học nghề tại Bưu cục C1 - Công ty C từ ngày 06/9/2021 đến 05/12/2021. D đã nhận đủ lương hàng tháng từ kế toán của bưu cục. Trong 02 ngày 29 và 30/11/2021, D nhận 05 đơn hàng đi giao hàng cho khách, D thu được tổng số tiền là 27.685.750 đồng nhưng không nộp tiền ngay cho Công ty mà vẫn giữ tiền lại. Ngày 01/12/2021, D tự nghỉ việc, số tiền thu của khách được 27.685.750 đồng D chi tiêu cá nhân hết. Công ty đã liên lạc yêu cầu nhưng D không đến trả tiền. Sau khi, Cơ quan điều tra triệu tập D đến làm việc nhiều lần, ngày 28/4/2022, Nguyễn Hữu D đã tự nguyện trả lại số tiền 27.685.750 đồng cho Công ty C.
- Nguyễn Tất L khai nhận: Ngày 01/10/2021, L ký hợp đồng lao động số 073026-21/HĐLĐ với ông ông Đào Đình H4 – Giám đốc Chi nhánh H5 - Công ty C, Hợp đồng có thời hạn 01 năm, mức lương 4.641.000 đồng/01 tháng và cộng thêm từ 3.000 đồng – 4.000 đồng/đơn hàng giao thành công, đến làm việc và học nghề tại Bưu cục C1 - Công ty C từ ngày 01/10/2021 đến 30/92/2022. L đã nhận đủ lương hàng tháng từ kế toán của bưu cục. Trong ngày 26/11/2021, L nhận 05 đơn hàng đi giao hàng cho khách thu được tổng số tiền là 23.801.000 đồng nhưng L không nộp tiền ngay cho Công ty mà vẫn giữ tiền lại. Ngày 27/11/2021, L tự nghỉ việc, số tiền thu của khách được 23.801.000 đồng L chi tiêu cá nhân hết. Công ty đã liên lạc yêu cầu nhưng L không đến trả tiền. Sau khi, Cơ quan điều tra triệu tập L đến làm việc nhiều lần, ngày 23/4/2022, Nguyễn Tất L đã tự nguyện trả lại số tiền 23.801.000 đồng cho Công ty C.
- Đỗ Văn L2 khai nhận: Ngày 22/6/2021, L2 ký hợp đồng học việc số 071692-21/HĐHV với ông FANG HONG YUAN – Giám đốc Chi nhánh H5- Công ty C, Hợp đồng học nghề 03 tháng, mức lương 7.000.000 đồng/01 tháng và cộng thêm từ 3.000 đồng – 4.000 đồng/đơn hàng giao thành công, đến làm việc tại Bưu cục C1 - Công ty C từ ngày 22/6/2021 đến ngày 21/9/2021. L2 đã nhận đủ lương hàng tháng từ kế toán của bưu cục. Trong ngày 31/7/2021, L2 nhận 20 đơn hàng đi giao hàng cho khách thu được tổng số tiền là 15.820.604 đồng nhưng L2 không nộp tiền ngay cho Công ty mà vẫn giữ tiền lại. Ngày 01/8/2021, L2 tự nghỉ việc, số tiền thu của khách được 15.820.604 đồng Linh chi tiêu cá nhân hết. Công ty đã liên lạc yêu cầu nhưng L2 không trả lời và không đến trả tiền. Sau khi, Cơ quan điều tra triệu tập L2 đến làm việc nhiều lần, ngày 23/4/2022, Đỗ Văn L2 đã tự nguyện trả lại số tiền 15.820.604 đồng cho Công ty C.
- Nguyễn Vũ Nguyên K nhận: Ngày 14/5/2021, N2 ký hợp đồng học việc số 068231-21/HĐHV với ông FANG HONG YUAN – Giám đốc Chi nhánh H5 - Công ty C, Hợp đồng học việc 03 tháng, mức lương 7.000.000 đồng/01 tháng và cộng thêm từ 5.000 đồng/đơn hàng giao thành công, đến làm việc tại Bưu cục C1 - Công ty C từ ngày 14/5/2021 đến 13/8/2021. Nguyên đã nhận đủ lương hàng tháng từ kế toán của bưu cục. Trong ngày 19/6/2021, N2 nhận 18 đơn hàng đi giao hàng cho khách, L2 thu được tổng số tiền là 14.809.795 đồng, nhưng N2 không nộp tiền ngay cho Công ty mà vẫn giữ tiền lại. Ngày 20/6/2021, N2 tự nghỉ việc, số tiền thu của khách được 14.809.795 đồng Nguyên chi tiêu cá nhân hết. Công ty đã liên lạc yêu cầu nhưng N2 không trả lời và không đến trả tiền. Sau khi, Cơ quan điều tra triệu tập N2 đến làm việc nhiều lần, ngày 10/5/2022, Nguyễn Vũ N2 đã tự nguyện trả lại số tiền 14.809.795 đồng cho Công ty C.
Quá trình điều tra vụ án, các Nguyễn Tất L, Nguyễn Vũ N2, Nguyễn Hữu D, Đỗ Văn H và Đỗ Văn L2 đã thừa nhận chiếm đoạt tiền trên của Công ty. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã yêu cầu Công ty C cung cấp danh sách cụ thể 85 khách hàng đã nhận hàng và trả tiền cho nhân viên giao hàng gồm: L, N2, D, H, L2 và có xác nhận giao hàng thành công nhưng không nộp tiền cho kê toán bưu cục công ty. Do thời gian đã lâu, hệ thống của công ty không còn lưu trữ thông tin về tên và địa chỉ khách hàng. Do đó, Cơ quan điều tra không xác định được tên và địa chỉ khách hàng.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Tất L, Nguyễn Vũ N2, Nguyễn Hữu D, Đỗ Văn H và Đỗ Văn L2 đã tự nguyện khắc phục trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho Bưu cục Công ty C - Chi nhánh H5. Đại diện Công ty C không yêu cầu bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 175/CT – VKS ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Tất L, Đỗ Văn L2 và Nguyễn Vũ N2 về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Tất L, Đỗ Văn L2, Nguyễn Vũ N2 phạm tội “Tham ô tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Đỗ Văn H 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Nguyễn Hữu D 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Nguyễn Tất L 26 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Đỗ Văn L2 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Nguyễn Vũ N2 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 29/7/2024, bị cáo Đỗ Văn L2 có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại vụ án và xin hưởng án treo.
Ngày 22/7/2024, bị cáo Đỗ Văn H kháng cáo xin hưởng án treo.
Ngày 29/7/2024, bị cáo Nguyễn Tất L kháng cáo đề nghị xem xét lại vụ án và xin hưởng án treo.
Ngày 24/7/2024, bị cáo Nguyễn Hữu D và bị cáo Nguyễn Vũ N2 kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Tất L, Đỗ Văn L2 và Nguyễn Vũ N2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Lời nói sau cùng các bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Hữu D, Đỗ Văn L2 và Nguyễn Vũ N2 thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật, xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo đúng về mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Tất L vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, bị cáo L vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm nhưng không có đơn xin vắng mặt, không xuất trình tài liệu về các lý do bất khả kháng. Bị cáo đã có lời khai trong hồ sơ. Việc vắng mặt của bị cáo không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị cáo L.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo có mặt trình bày lời khai như đã trình bày tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Nguyễn Tất L, Nguyễn Vũ N2, Nguyễn Hữu D, Đỗ Văn H và Đỗ Văn L2 đã lợi dụng việc được giao nhiệm vụ nhận đơn hàng đi giao hàng cho khách và nhận tiền nộp về Bưu cục của Công ty C - Chi nhánh H5, ở Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện C, thành phố Hà Nội. Sau khi nhận tiền của các khách hàng, các bị cáo L, N2, D, H, L2 không nộp lại cho công ty C mà đã nghỉ việc để chiếm đoạt tiền để chi tiêu cá nhân hết.
Đỗ Văn H chiếm đoạt số tiền là 30.652.614 đồng; Nguyễn Hữu D chiếm đoạt số tiền là 27.685.750 đồng; Nguyễn Tất L chiếm đoạt số tiền là 23.801.000 đồng; Đỗ Văn L2 chiếm đoạt số tiền là 15.820.604 đồng; Nguyễn Vũ N2 chiếm đoạt số tiền là 14.809.795 đồng.
Với những hành vi phạm tội như trên, các bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Tất L, Đỗ Văn L2 và Nguyễn Vũ N2 đã bị Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xét xử về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ.
Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, khi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo có nhân thân tốt, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho công ty C, đại diện ủy quyền của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo H đã từng có thời gian tham gia quân ngũ, bị cáo L2 có ông nội là người có công với đất nước, bị cáo N2 đã từng làm công an viên xã và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Vũ N2 trình bày bị cáo là công an viên, được Giám đốc công an thành phố H tặng giấy khen, có thân nhân là liệt sỹ, bố mẹ già, có 3 người con, bị cáo là lao động chính trong gia đình.
Bị cáo Đỗ Văn L2 trình bày: Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ bị cáo bị bệnh, bị cáo có 02 con nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình.
Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Do vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ để giảm hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo theo yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tất L, Nguyễn Vũ N2, Nguyễn Hữu D, Đỗ Văn H và Đỗ Văn L2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tất L, Nguyễn Vũ N2, Nguyễn Hữu D, Đỗ Văn H và Đỗ Văn L2 không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Tất L, Đỗ Văn L2và Nguyễn Vũ N2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Tất L, Đỗ Văn L2, Nguyễn Vũ N2 phạm tội “Tham ô tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Đỗ Văn H 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Nguyễn Hữu D 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Nguyễn Tất L 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Đỗ Văn L2 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Nguyễn Vũ N2 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Đỗ Văn H, Nguyễn Hữu D, Nguyễn Tất L, Đỗ Văn L2 và Nguyễn Vũ N2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lê Na |
Bản án số 509/2025/HS-PT ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm (tham ô tài sản)
- Số bản án: 509/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
