|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 509/2024/HS-ST Ngày: 19-9-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thiều Thị Phi Loan;
2. Ông Trần Văn Chánh.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 419/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 447/2024/QĐXXST-HS, ngày 07/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 791/2024/HSST-QĐ ngày 22/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1995 tại Đồng Nai. Tên gọi khác: T. Nơi cư trú: C, tổ C, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: 7/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1959 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1956. Bị cáo có vợ tên Hoàng Yên P, sinh năm 1995, chưa có con. Tiền sự: Không.
Tiền án:
Ngày 08/02/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, theo Bản án số 63/2018/HS-ST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 04/7/2019, đã thi hành xong tiền án phí.
Ngày 19/6/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, theo Bản án số 304/2020/HS-ST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 16/12/2021, đã thi hành xong tiền án phí.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1987 tại Đồng Nai. Tên gọi khác: Bí. Nơi cư trú: C, tổ C, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Thợ sửa xe. Trình độ học vấn: 02/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1959 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1956. Bị cáo có vợ tên Võ Thiên Ngọc B, sinh năm 1987 và có 02 con sinh năm 2014 và 2020. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 12/11/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, theo Bản án số 635/2008/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong Bản án.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
3. Đặng Phát V, sinh năm 1997 tại T. Tên gọi khác: không. Nơi thường trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Thợ sửa xe. Trình độ học vấn: 07/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Con ông Đặng Thanh H1, sinh năm 1971 và bà Ngô Thanh H2, sinh năm 1976. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
-Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng L: Ông Vũ Duy N, ông Nguyễn Đức Đ1- Luật sư thuộc Công ty L1 - Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Ông Đ1 có mặt, ông N xin vắng mặt.
-Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Đ: Ông Nguyễn Đức Đ1- Luật sư thuộc Công ty L1 - Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Thanh B1, sinh năm 2002.
Địa chỉ: 1, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
Người làm chứng: Chị Huỳnh Ngọc H3, sinh năm 1988.
Địa chỉ: 1, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Huỳnh Ngọc H3 và anh Nguyễn Hoàng Anh T2, sinh năm 1982, trú tại số C, tổ C, khu phố A, phường B, thành phố B là vợ chồng. Vào năm 2020, chị H3 có đứng ra vay tiền dùm bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1956 (là mẹ chồng của chị H3, cư trú cùng địa chỉ với anh T2) và một số người trong gia đình bà H. Từ năm 2021, vợ chồng chị H3 phát sinh mâu thuẫn và làm thủ tục ly hôn. Gia đình bà H không đưa tiền cho chị H3 để trả nợ nên chị H3 phải tự bỏ tiền ra trả nợ thay.
Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 16/4/2023, chị H3 đến nhà bà H để đòi nợ nhưng do sơ bị đánh nên đã rủ anh Nguyễn Thanh B1 (em họ của chị H3) đi cùng đến nhà bà H. Khi đi, anh B1 được anh Nguyễn Thành V1, sinh năm 2001, trú tại số B, tổ A, khu phố C, phường B, thành phố B chở đến gần nhà bà H thì gặp chị H3. Sau đó, anh V1 đứng bên ngoài đường còn chị H3 và anh B1 đến gặp bà H để đòi nợ nhưng do bà H nói chưa có tiền trả nên hai bên lời qua tiếng lại. Anh B1 đi đến chửi bà H thì bị bà H nói lớn tiếng lại, sau đó chị H3 nói anh B1 đi ra ngoài để chị H3 nói chuyện với bà H nên anh B1 đi ra ngoài đường Huỳnh Văn N1 đứng.
Cùng lúc này, Nguyễn Hoàng L (tên gọi khác là T, là con trai bà H) cùng với Đặng Phát V (bạn của L) và những người trong gia đình đang ngồi nhậu trong nhà bà H, nghe tiếng bà H, chị H3 và anh B1 cãi nhau nên từ trong nhà bà H đi ra dùng tay chân đánh anh B1, anh B1 bỏ chạy trên đường H hướng về cầu R thuộc khu phố A, phường B, thành phố B thì bị L và V tiếp tục đuổi đánh. Thấy vậy chị H3 đuổi theo ôm L để can ngăn không cho đánh anh B1 nhưng L và V không dừng lại nên chị H3 dùng bình xịt hơi cay mang theo xịt vào người L thì bị L vung tay đẩy chị H3 ra, rồi tiếp tục cùng V đuổi đánh anh B1. Cùng lúc này, Nguyễn Hoàng Đ (tên gọi khác là B2, là anh trai L, con trai bà H) đang ở trong nhà bà H thấy sự việc nên chạy ra nhặt 01 thanh gỗ dài 126cm bên lề đường cùng L, V đuổi đánh anh B1. Anh B1 bỏ chạy đến cầu R bị ngã ngửa ra đường thì bị L, V chạy đến dùng chân đạp liên tục vào người anh B1, Đ cũng chạy đến dùng thanh gỗ đánh vào người B1 nhiều cái gây thương tích cho anh B1 ở vùng mắt phải, cẳng tay phải và cẳng tay trái.
Thấy B1 bị đánh nên chị H3 quỳ gối nằm xuống che người anh B1 can ngăn không cho L, V và Đ đánh anh B1 thì chị H3 bị thương tích vùng gối trái do bị chà xuống mặt đường. Khi được chị H3 và những người dân xung quanh tới can ngăn thì L, V và Đ dừng lại rồi bỏ đi về. Lúc này, chị H3 phát hiện anh B1 bị 01 con dao bấm đang cắm ở vùng hông trái gây thương tích
Ngoài ra, trong lúc chị H3 đang can ngăn thì bị Nguyễn Hoàng Anh T2 đến dùng tay tát 01 cái vào mặt chị H3 nhưng không để lại thương tích. Sau đó, anh B1 được chị H3 đưa đến Bệnh viện Đ2 cấp cứu.
Ngày 21/4/2023, chị Huỳnh Ngọc H3 và anh Nguyễn Thanh B1 đã làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Phát V, Nguyễn Hoàng Đ và Nguyễn Hoàng L thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Về vật chứng gồm:
- + 01 con dao bấm kim loại màu trắng xám dài 15 cm, rộng 01cm;
- + 01 thanh gỗ có chiều dài 126cm, kích thước 05x04cm;
- + 01 bình xịt hơi cay hiệu Nato;
- + 02 đoạn video clip liên quan đến vụ việc (kèm theo hồ sơ);
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0557/KLTTCT-TTPYĐN ngày 14/6/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận về thương tích của anh Nguyễn Thanh B1:
1. Các kết quả chính:
- - Sẹo mi dưới mắt phải.
- - Vết biến đổi sắc tố da 1/3 giữa mặt sau cẳng tay phải.
- - Vết biến đổi sắc tố da đầu trên mặt trong cẳng tay trái và trên mặt sau cẳng tay trái.
- - Sẹo vết thương trùng với vết mổ hông lưng trái; Sẹo mổ dẫn lưu hông lưng trái và tổn thương thận trái đã phẫu thuật khâu vết thương thận trái.
- - Không định tỷ lệ cho sây sát da vùng đầu và chân hai bên hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Thanh B1 tại thời điểm giám định là 24%.
3. Vật gây thương tích: Thương tích đầu mặt và tay chân hai bên: Vật tày; Thương tích hông lưng trái: Vật sắc nhọn.
* Tại Công văn số 454/TTPY ngày 09/8/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y giải thích Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0557/KLTTCT-TTPYĐN ngày 14/6/2023 về thương tích của anh Nguyễn Thanh B1 như sau:
- - Vết thương hông lưng trái được định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 2,28% làm tròn 20%, trong đó:
- +Sẹo vết thương trùng với vết mổ hông lưng trái: 02%;
- +Sẹo mổ dẫn lưu hông lưng trái: 02%;
- +Tổn thương thận trái đã phẫu thuật khâu vết thương thận trái: 17%.
- - Các tổn thương còn lại được định tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể4,44% làm tròn là 04%, trong đó:
- + Sẹo mi dưới mắt phải: 03%.
- + Vết biến đổi sắc tố da 1/3 giữa mặt sau cẳng tay phải: 0,5%.
- + Vết biến đổi sắc tố da đầu trên mặt trong cẳng tay trái: 0,5%.
- + Vết biến đổi sắc tố da đầu trên mặt sau cẳng tay trái: 0,5%.
- - Tại bản Kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 1148/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 11/12/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận:
- + Cơ chế hình thành thương tích đối với vết thương hông trái của anh Nguyễn Thanh B1: Vết thương hông lưng trái #2cm đâm sâu vào cơ thắt lưng chậu trái tới cực giữa mặt sau kích thước #1cm. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng hông lưng trái với lực vừa đủ theo hướng từ trái qua phải, chếch từ sau ra trước và từ ngoài vào trong gây nên.
- + Nếu để dao ở cạp quần khi té ngã có tạo ra thương tích như trên hay không? Về vấn đề này Trung tâm P2 không đủ căn cứ để kết luận cụ thể vì tuỳ thuộc vào chiều hướng của con dao khi để vào cạp quần, tư thế ngã của bệnh nhân...
- - Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0556/KLTTCT-TTPYĐN ngày 14/6/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận về thương tích của chị Huỳnh Ngọc H3:
1. Các kết quả chính:
- - 02 sẹo vùng gối trái và 01 vết biến đổi sắc tố da gối trái.
- - Không định tỷ lệ cho thương tích mặt hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng.
2. Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Huỳnh Ngọc H3 tại thời điểm giám định là 04%.
3. Vật gây thương tích: Vật tày.
* Trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Thanh B1 yêu cầu các bị cáo bồi thường với tổng số tiền 30.000.000 đồng. Các bị cáo đồng ý cùng bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Bị cáo L, bị cáo Đ đã bồi thường cho anh B1 số tiền 10.000.000 đồng (mỗi bị cáo 5.000.000 đồng).
Quá trình điều tra, chị Huỳnh Ngọc H3 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 26.000.000 đồng. Ngày 23/8/2024 chị H3 có văn bản trình bày không yêu cầu các bị cáo bồi thường trong vụ án hình sự này, trường hợp có tranh chấp thì chị thực hiện việc khởi kiện các bị cáo trong vụ án dân sự bằng vụ án khác.
Quá trình điều tra, L, V và Đ khai không sử dụng dao gây thương tích vùng hông lưng trái cho anh B1 và cũng không biết ai dùng dao gây thương tích cho anh B1.
Anh Nguyễn Thanh B1 khai không thấy ai cầm dao đánh nhau cũng như không thấy ai cầm dao đâm anh B1 thương tích, đồng thời anh B1 cũng không mang theo dao, không sử dụng dao để đánh nhau.
Chị Huỳnh Ngọc H3 và anh Nguyễn Hoàng Anh T2 đều khai không thấy ai cầm dao và không xác định được người cầm dao đâm thương tích cho B1.
Lời khai người làm chứng thể hiện: cháu Bùi Văn Q, sinh ngày 11/3/2012, cư trú tại số A, khu phố A, phường B, thành phố B khai L là người cầm dao đâm vào phía sau B1; Anh Nguyễn Thành V1, bà Nguyễn Ngọc N2, sinh năm 1969, trú tại số A, khu phố A, phường B, thành phố B, là mẹ ruột chị H3), anh Trần Tấn H4, sinh năm 1974, trú tại số C, khu phố A, phường B, thành phố B và anh Huỳnh Minh P1, sinh năm 1980, cư trú tại 30/4, tổ C, khu phố A, phường B, thành phố B và một số người làm chứng khác đều khai không thấy ai cầm dao đâm gây thương tích cho anh B1.
Kết quả điều tra xác định: Đối với thương tích của anh B1 do vật sắc (con dao) gây ra với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%. Cháu Bùi Văn Q khai L cầm dao đâm vào phía sau anh B1 nhưng L không thừa nhận; ngoài ra không có chứng cứ nào khác để chứng minh; Anh B1 và chị H3 không xác định được ai đã dùng dao đâm anh B1. Lời khai của Đ, V, bà H và những người khác không xác định được ai dùng dao đâm vào hông lưng trái của anh B1. Bà H khai dao do B1 đem tới giấu trong người (cạp quần nhưng không rõ bên phải hay bên trái). Như vậy, chưa đủ căn cứ để xác định ai là người sử dụng dao gây ra thương tích hông lưng trái của anh B1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 20%.
Cáo trạng số 421/CT-VKS-BH, ngày 16/7/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố Đặng Phát V, Nguyễn Hoàng Đ và Nguyễn Hoàng L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Ngày 23/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa ban hành Cáo trạng số 497/CT-VKSBH, truy tố Nguyễn Hoàng L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; truy tố Đặng Phát V, Nguyễn Hoàng Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng này thay thế Cáo trạng số 421/CT-VKS-BH, ngày 16/7/2024. Cáo trạng số 497/CT-VKSBH đã được Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tống đạt cho các bị cáo và người bào chữa cho các bị cáo, không ai có ý kiến khiếu nại thắc mắc gì.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a, i khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Đại từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo V từ 08 đến 12 tháng tù; Về án phí các bị cáo phải chịu; buộc các bị cáo bồi thường thiệt hại cho anh B1.
Bị hại anh B1 không trình bày, bổ sung ý kiến gì.
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì.
Luật sư Đồng bào chưa cho bị cáo L, bị cáo Đ phát biểu thống nhất về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo Cáo trạng truy tố và Bản luận tội đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ người bị hại có một phần lỗi, các bị cáo đã bồi thường một phần theo yêu cầu của bị hại, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L, cho bị cáo Đ hưởng án treo theo quy định của pháp luật hình sự và hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao. Về trách nhiệm dân sự, các bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Luật sư N xin xét xử vắng mặt, không gửi bản bào chữa.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tranh luận: Các tình tiết giảm nhẹ đã được Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo. Trong vụ án này, các bị cáo phạm vào 02 tình tiết tăng nặng định khung là có dùng hung khí nguy hiểm và tính chất côn đồ, bị hại không có lỗi, do đó Viện kiểm sát không đề nghị cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp quy định pháp luật.
Không ai tranh luận gì thêm.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng:
- Cáo trạng số 421/CT-VKS-BH ngày 16/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngày 07/8/2024, Tòa án ban hành Quyết định số 447/2024/QĐXXST-HS, đưa vụ án ra xét xử đối với các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngày 23/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa ban hành Cáo trạng số 497/CT-VKSBH thay thế cáo trạng số 421/CT-VKS-BH, truy tố Nguyễn Hoàng L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; truy tố Đặng Phát V, Nguyễn Hoàng Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 497/CT-VKSBH đã được Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tống đạt cho các bị cáo và người bào chữa cho các bị cáo, không ai có ý kiến khiếu nại thắc mắc gì. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
- Luật sư Vũ Duy N và Luật sư Nguyễn Đức Đ1 cùng bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng L. Luật sư N có đơn xin vắng mặt, bị cáo L đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa; ngoài ra tại phiên tòa Luật sư Đ1 có mặt để bào chữa cho bị cáo L, là đảm bảo quyền bào chữa cho bị cáo. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trong vụ án này, trong lúc chị Huỳnh Ngọc H3 can ngăn không cho các bị cáo đánh anh B1 thì đầu gối trái của chị H3 chà vào mặt đường gây thương tích với tỷ lệ 04%. Xét thấy: hành vi của L, Đ và V không cấu thành tội phạm với chị H3, do đó chị H3 không tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là bị hại, mà tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng theo Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo:
Xét thấy, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 16/4/2023, tại đoạn đường H trước nhà bà Huỳnh Thị H tại số C đến cầu R thuộc tổ C, khu phố A, phường B, thành phố B tỉnh Đồng Nai. Do mâu thuẫn từ việc chị Huỳnh Ngọc H3 và anh Nguyễn Thanh B1 đến đòi nợ bà Huỳnh Thị H (mẹ chồng chị H3) dẫn đến Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Hoàng Đ (đều là con trai bà H) và Đặng Phát V (là bạn của L) dùng tay chân và 01 thanh gỗ dài khoảng 126cm đánh gây thương tích vùng mắt phải, cẳng tay phải và cẳng tay trái của anh Nguyễn Thanh B1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%. Ngày 21/4/2023, anh Nguyễn Thanh B1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Hành vi của bị cáo thực hiện đã cố ý xâm phạm thân thể, gây hại đến sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ, đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, với tình tiết định khung hình phạt “sử dụng hung khí nguy hiểm”, “có tính chất côn đồ” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo L, hành vi phạm tội lần này còn phạm vào tình tiết tăng nặng định khung là “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm d khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ:
- Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo L, Đ là anh em ruột, đã tự nguyện bồi thường một phần theo yêu cầu của bị hại; các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo V có thêm tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc tường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Bị cáo L, bị cáo Đ có nhân thân xấu, đã bị Tòa án đưa ra xét xử về tội có lỗi cố ý, lại tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật.
Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.
[5] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo và quyết định hình phạt:
Các bị cáo tham gia vụ án vai trò đồng phạm giản đơn, cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo L lần này phạm tội là tái phạm nguy hiểm nên có mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Bị cáo Đ nhân thân xấu nên mức hình phạt cao hơn bị cáo V.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của từng bị cáo; căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo, cần thiết phải cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000 đồng bao gồm tiền chi phí khám chữa bệnh, tiền thuốc; tiền thu nhập bị mất trong những ngày nằm viện điều trị; tiền thu nhập bị mất của người chăm sóc cho bị hại trong những ngày bị hại nằm viện; tiền tổn thất tinh thần do hành vi gây thương tích của các bị cáo gây ra. Các bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này theo yêu cầu của bị hại. Do đó, buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng, số tiền mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 10.000.000 đồng.
Đối với bị cáo L, bị cáo Đ mỗi bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng trước ngày xét xử vụ án, nên được trừ vào số tiền mà bị hại yêu cầu, số tiền còn lại buộc bị cáo L, Đ tiếp tục phải bồi thường cho bị hại với số tiền mỗi bị cáo là 5.000.000 đồng.
Ban đầu chị Huỳnh Ngọc H3 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 26.000.000 đồng. Tuy nhiên, ngày 23/8/2024 chị H3 có văn bản trình bày không yêu cầu các bị cáo bồi thường trong vụ án hình sự này. Do đó, đối với yêu cầu của chị H3 Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Trường hợp có tranh chấp yêu cầu các bị cáo bồi thường thì chị H3 có quyền khởi kiện các bị cáo vụ án khác
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bấm kim loại màu trắng xám dài 15 cm, rộng 01cm; 01 thanh gỗ có chiều dài 126cm, kích thước 05x04cm; 01 bình xịt hơi cay hiệu Nato;
- + Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB ghi lại nội dung sự việc phạm tội.
[8] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Đối với thương tích của chị Huỳnh Ngọc H3: Trong lúc chị H3 can ngăn không cho L, Đ và V đánh anh B1 thì gối trái của chị H3 chà vào mặt đường gây thương tích với tỷ lệ 04%. Xét thấy hành vi của L, Đ và V không cấu thành tội phạm.
Đối với hành vi của Nguyễn Hoàng Anh T2 tát vào mặt chị H3 nhưng không để lại thương tích (Cơ quan giám định không định tỷ lệ), T2 đã bị Công an thành phố B xử lý hành chính.
Đối với thương tích hông lưng trái của anh Nguyễn Thanh B1 với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20%. Quá trình điều tra chưa đủ cơ sở chứng minh L là người sử dụng con dao gây thương tích cho anh B1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra xử lý sau.
[9] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền buộc các bị cáo bồi thường cho bị hại là 500.000 đồng.
[10] Quan điểm của Luật sư bào chữa cho các bị cáo phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a, i khoản 1; điểm d khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành hình phạt.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đ 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành hình phạt.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Phát V 08 (tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành hình phạt.
-Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự, Điều 30 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng L, bị cáo Nguyễn Hoàng Đ mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh B1 số tiền 5.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Đặng Phát V phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh B1 số tiền 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi bên có nghĩa vụ thi hành xong nghĩa vụ trả tiền, trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bấm kim loại màu trắng xám dài 15 cm, rộng 01cm; 01 thanh gỗ có chiều dài 126cm, kích thước 05x04cm; 01 bình xịt hơi cay hiệu Nato;
- + Lưu theo hồ sơ vụ án 01 USB ghi lại nội dung sự việc phạm tội.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/8/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- +Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Hoàng Đ, Đặng Phát V mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
- +Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Hoàng Đ mỗi bị cáo phải nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm;
- +Buộc bị cáo Đặng Phát V phải nộp số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm;
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Viết Dược |
Bản án số 509/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 509/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án xét xử
