|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 509/2023/DS-PT Ngày: 19.12.2023 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang
Bà Hà Thị Phương Thanh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 402/2023/TLPT-DS ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 39/2023/DSST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 548/2023/QĐ - PT ngày 05 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: 1. Ông Đặng Văn L, sinh năm 1966
- 2. Bà Bùi Thị Ú, sinh năm 1967
- Cùng địa chỉ: tổ D, ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- - Bị đơn: Bà Võ Thị P, sinh năm 1950
- Địa chỉ: tổ D, ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- Người đại diện hợp pháp cho bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1988. Địa chỉ: tổ D, ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ (Theo văn bản ủy quyền ngày 05/5/2023).
- - Người làm chứng: Trần Hoàng H, sinh năm 1972. Địa chỉ: tổ D, ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ.
- - Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú; bị đơn bà Võ Thị P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Đặng Văn L trình bày: Năm 1996 ông và vợ là bà Bùi Thị Ú nhận chuyển nhượng phần đất thửa 17, diện tích 861m² của vợ chồng ông Lê Văn Ú1, bà Võ Thị P. Đến năm 2019 ông mới làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên phần đất có 02 ngôi mộ là người thân của bà P, nay ông có nhu cầu sử dụng đất nên yêu cầu bà P di dời 02 ngôi mộ trả lại đất cho ông.
Nguyên đơn bà Bùi Thị Ú trình bày: Thống nhất ý kiến của chồng bà là ông Đặng Văn L.
Bị đơn bà Võ Thị P trình bày: Năm 1996 bà và chồng là ông Lê Văn Ú1 (chết ngày 02/01/2014) chuyển nhượng phần đất thuộc thửa 17 cho ông L, bà Ú1, trên phần đất này đã có 01 ngôi mộ (chôn cha chồng của bà từ rất lâu) và 01 kim tỉnh. Khi chuyển nhượng đất, bà có nói miệng chỉ bán đất, không bán phần mộ và kim tỉnh. Năm năm sau (năm 2001), khi mẹ chồng bà chết, gia đình bà tiếp tục an táng trên phần đất này; sau đó con cháu trong gia đình sửa sang lại 02 ngôi mộ không ai tranh chấp. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu di dời mộ thì bà không đồng ý.
Tại bản án sơ thẩm số 39/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã tuyên như sau:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu di dời 02 ngôi mộ trên phần đất thửa 17.
Buộc ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú giao cho bà Võ Thị P quyền sử dụng đất diện tích 20,3m² (tại vị trí A, B), thuộc một phần thửa 17, tờ bản đồ số 01, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06421 ngày 16/12/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cho ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú. Đất tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ. (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 117/TTKTTNMT ngày 23/02/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).
Bà Võ Thị P có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú số tiền 71.050.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí đo đạc, định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Vào ngày 09/8/2023, nguyên đơn ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bà P phải di dời 02 ngôi mộ trả lại diện tích 20.3m² (tại vị trí A, B) thuộc một phần thửa 17, tờ bản đồ số 01 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đặng Văn L ngày 16/12/2019. Phía ông L, bà Ú hổ trợ chi phí dời mộ cho bà P số tiền là 25.000.000 đồng.
Ngày 10/8/2023, bà Võ Thị P kháng cáo một phần bản án sơ thẩm không đồng ý trả toàn bộ giá trị đất mộ 20,3m² số tiền là 71.050.000đồng, chỉ đồng ý trả lại số tiền phần diện tích đất ngoài khu mộ với kích thước chiều dài một cạnh là 2.07m và một cạnh là 1.36m; chiều ngang một cạnh là 4.03m và một cạnh là 3.94m theo bản trích đo địa chính ngày 14/2/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên Môi trường thành phố C. Bà P yêu cầu xem xét những nội dung đã nêu trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Nguyên đơn ông Đặng Văn L trình bày: Ông L thay đổi một phần yêu cầu kháng cáo đề nghị bị đơn di dời 02 ngôi mộ trên thửa đất 17, nguyên đơn hổ trợ cho bị đơn số tiền là 50.000.000 đồng. Nếu không di dời thì nguyên đơn đồng ý chuyển nhượng lại phần bờ đất có 02 ngôi mộ lại cho bị đơn với chiều ngang khoảng 5-6m, chiều dài hết đất, giá chuyển nhượng là 3.500.000 đồng/m².
Nguyên đơn bà Bùi Thị Ú thống nhất với ý kiến trình bày của ông L.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn – ông Lê Văn T trình bày: Bị đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và chỉ đồng ý trả giá trị diện tích đất nằm ngoài mộ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- - Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung giải quyết vụ án: Trên cơ sở tải liệu, chứng cứ và lời trình bày của đương sự. Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú; bị đơn bà Võ Thị P trong hạn luật định, nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện ngày 20/9/2022, ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú yêu cầu bà Võ Thị P di dời 02 ngôi mộ trên phần đất thửa 17, để trả lại đất cho nguyên đơn sử dụng. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “ Tranh chấp quyền sử dụng đất” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là có căn cứ.
[3] Về nội dung tranh chấp và nội dung kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn:
Xét thấy, theo nội dung Tờ giao kèo sang nhượng đất thổ cư ngày 02/9/1996, xác định vợ chồng ông Lê Văn Ú1, bà Võ Thị P chuyển nhượng cho ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú một phần đất thuộc thửa đất 17, diện tích 861m². Ông L, bà Ú đã trả đủ tiền chuyển nhượng và nhận đất sử dụng từ năm 2000. Ông Lê Văn Ú1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số CH01072 ngày 31/8/2011.
Thời điểm hai bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thửa đất 17 đã có 01 ngôi mộ (của cha chồng bà P) từ trước, nguyên đơn cho rằng không có thỏa thuận về việc di dời hay giữ nguyên phần mộ, còn bị đơn cho rằng có thỏa thuận miệng “sang đất không sang mộ”. Sau khi chuyển nhượng đất, 05 năm sau bà P tiếp tục an táng thêm 01 ngôi mộ kế bên (mẹ chồng bà P). Qua xem xét thẩm định tại chỗ thì 02 ngôi mộ được xây kiên cố, theo Bản trích đo địa chính số 117/TTKTTNMT ngày 23/02/20263 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên Môi trường thành phố C, phần đất tranh chấp tại vị trí A diện tích là 13.5m², vị trí B diện tích là 6.8m², tổng diện tích là 20,3m². Xét thấy, hiện trạng trên thửa đất 17 trước khi chuyển nhượng đã có một ngôi mộ nhưng các bên cho rằng khi giao dịch chuyển nhượng đất có thoả thuận miệng đối với phần đất mộ nhưng đây chỉ là lời trình bày không có tài liệu chứng cứ chứng minh. Trong quá trình nhận đất sử dụng nguyên đơn tiếp tục đồng ý để cho bị đơn chôn thêm 01 ngôi mộ, bị đơn vào sửa sang mộ, nguyên đơn cũng không phản đối. Đồng thời trong văn bản thoả thuận chuyển nhượng đất thổ cư ngày 02/9/1996 và trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/11/2019, cũng không thể hiện nội dung việc di dời mộ. Do các bên không ai cung cấp được chứng cứ về việc thoả thuận di dời mộ nên mặc nhiên chấp nhận hiện trạng trên đất.
[4] Phía bị đơn kháng cáo không đồng ý di dời mộ và không đồng ý trả tiền phần diện tích đất có mộ nhưng không chứng minh được chứng cứ khi chuyển nhượng đất có trừ diện tích mộ. Trong khi năm 1996, nguyên đơn nhận chuyển nhượng toàn bộ diện tích 861m² thuộc một phần thửa 17 và đã trả đủ tiền. Hơn nữa bị đơn cũng không yêu cầu phản tố được ổn định phần diện tích mộ. Tuy nhiên, nếu buộc di dời mộ mà bị đơn không tự nguyện thì gây trở ngại trong giai đoạn thi hành án, để đảm bảo quyền lợi cho các bên và giải quyết triệt để vụ án, cho bị đơn mở lối đi vào mộ và buộc bị đơn phải trả lại giá trị quyền sử dụng đất lại cho nguyên đơn nên cấp sơ thẩm buộc bà P thối hoàn giá trị đất cho nguyên đơn theo giá thị trường 3.500.000 đồng/m² x 20,3m² = 71.050.000 đồng là phù hợp.
Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm. Xét quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[ 5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định. Bị đơn thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn không phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú, bị đơn bà Võ Thị P
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú về việc yêu cầu bị đơn bà Võ Thị P di dời 02 ngôi mộ trên phần đất thửa 17. Buộc ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú giao cho bà Võ Thị P quyền sử dụng đất diện tích 20,3m² (tại vị trí A, B), thuộc một phần thửa 17, tờ bản đồ số 01, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06421 ngày 16/12/2019 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cho ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú. Đất tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện P, thành phố Cần Thơ. (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 117/TTKTTNMT ngày 23/02/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C).
- Buộc bà Võ Thị P có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú số tiền 71.050.000 đồng.
- Chi phí đo đạc, định giá: Nguyên đơn phải chịu 5.000.000 đồng (đã nộp và chi xong).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí tại phiếu thu số 0007574 ngày 21/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phong Điền thành án phí.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Đặng Văn L, bà Bùi Thị Ú phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001577 ngày 15/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
Bị đơn bà Võ Thị P được miễn không phải nộp do là người cao tuổi.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bích Hải |
Bản án số 509/2023/DS-PT ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 509/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
