|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 508/2024/DS-PT
Ngày 19/9/2024
V/v yêu cầu công nhận hợp đồng
chuyển quyền sử dụng đất và chấm
dứt hành vi cản trở quyền sử dụng
đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam
Các Thẩm phán: Ông Điều Văn Hằng
Ông Phùng Hải Hiệp
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Liên, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Bùi Ngọc Tân, Kiểm sát viên cao cấp;
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 334/2024/TLPT-DS ngày 01/7/2024 về “Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 10010 /2024/QĐPT ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Đức P, sinh năm 1961; nơi cư trú: Số E, Ngõ D, P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng và chị Trần Mai A, sinh năm 1987; nơi cư trú: TDP T, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (ông P vắng mặt, chị Mai A vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Lan P1, trú tại: Căn hộ S, Tòa R, T, G, Hà Nội; Có mặt;
Bị đơn: Anh Trịnh Khắc H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Ngõ A, Tổ F, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trịnh Khắc D và bà Phạm Thị H1; đều trú tại: Tổ F, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng, vắng mặt;
- Chị Trịnh Thị H2; nơi cư trú: TDP Q, phường H, quận Đ, Hải Phòng, vắng mặt;
- Bà Trịnh Thị H3; nơi cư trú: Tổ F, phường H, quận D, Hải Phòng;
- Anh Trịnh Khắc T, anh Trịnh Khắc T1, anh Trịnh Khắc T2, cùng địa chỉ: Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt;
- Bà Trịnh Thị H4; nơi cư trú: TDP T, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng, vắng mặt;
- Bà Trịnh Thị K, sinh ngày 01/6/1963, số hộ chiếu N2196633, cấp ngày 25/7/2020; nơi cấp Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Q, Trung Quốc (hoặc bà Trịnh Thị K, sinh ngày 05/6/1965, HKTT: Hoà Nghĩa, Dương K1, Hải Phòng, cha là Trịnh Khắc S và mẹ là Nguyễn Thị R theo Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về TTXH – Công an T7 cung cấp); hiện đang ở Trung Quốc; vắng mặt.
- Bà Đoàn Thị V và anh Trịnh Quốc P2, sinh năm 1982; anh Trịnh Khắc P3, anh Trịnh Khắc P4; đều cư trú: Tổ F, phường H, quận D, Hải Phòng, vắng mặt;
- Bà Nguyễn Thị Q, nơi cư trú: Số D thôn N, đại đội T, thị trấn H, huyện T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền cho anh T, anh T1, anh T2 là bà Trịnh Thị H3; nơi cư trú: Tổ F, phường H, quận D, Hải Phòng, vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền cho anh P4, anh P3, anh P2 là bà Trịnh Thị H3; nơi cư trú: Tổ F, phường H, quận D, Hải Phòng, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 24/11/2021 và quá trình tố tụng nguyên đơn là ông Trần Đức P, chị Trần Mai A và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 03/3/2002, nguyên đơn có nhận chuyển nhượng của ông Trịnh Khắc M trú tại thôn T, H, K, Hải Phòng (nay là tổ dân phố T, phường H, quận D, Hải Phòng) 1.500 m² đất thổ cư thuộc thửa 555 tờ bản đồ 07 với giá 100.000.000 đồng. Khi mua hai bên có viết giấy mua bán có xác nhận của địa chính, UBND xã H. Do khi lập trích đo diện tích đất thì thửa đất chỉ có 1.016m², nên ngày 18/9/2006, hai bên thống nhất giá chuyển nhượng chỉ còn 40.000.000 đồng, ông P có cho thêm ông M 2.000.000 đồng. Ông M đã nhận đủ 42.000.000 đồng và bàn giao đất, trích đo hiện trạng sử dụng đất, biên bản xác định ranh giới thửa đất có chữ ký giáp ranh của các hộ sử dụng đất liền kề cho nguyên đơn.
Năm 2007, ông M chết. Năm 2010, khi nguyên đơn đổ đất san lấp diện tích đất đã được ông M chuyển nhượng thì bị bà H3 là em gái ông M ngăn cản không cho san lấp. Nguyên đơn đã trình báo UBND phường H và UBND phường H đã có văn bản giải quyết khẳng định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và ông M là không vi phạm pháp luật, yêu cầu bà H3 không được cản trở nguyên đơn trong việc san lấp đất đã nhận chuyển nhượng từ ông M.
Đến ngày 18/9/2018, nguyên đơn được thông báo anh H không cho đổ đất vào diện tích đất đã được ông M chuyển nhượng; vì vậy nguyên đơn đã trình báo cơ quan công an và UBND phường H để can thiệp. Trong quá trình giải quyết tranh chấp lại UBND phường H, anh H (con trai ông M) cho rằng việc giao dịch chuyển nhượng giữa hai bên chưa hoàn thành, ông M mới nhận tạm ứng 07 triệu đồng và không đồng ý trả lại đất mà chỉ chấp nhận trả lại cho nguyên đơn số tạm ứng 07 triệu đồng hoặc gấp 5 đến 7 lần. Do hai bên không hòa giải được nên nguyên đơn đã khởi kiện đến Tòa án yêu cầu: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và ông Trịnh Khắc M; Buộc anh Trịnh Khắc H và những người liên quan phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với quyền sử dụng đất của ông Trần Đức P, chị Trần Thị Mai A1. Trường hợp không công nhận hợp đồng thì yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.
Bị đơn là anh Trịnh Khắc H trình bày: Ông P có thời gian đi chấp hành án cùng anh trai của anh là Trịnh Khắc M1 và nhận anh trai anh là con nuôi nên hai bên gia đình có sự quen biết. Sau khi ra trại, ông P có đến nhà anh và bàn với bố anh là ông M cho ông P thuê ao để ông P vay vốn ngân hàng. Ông P có đưa cho bố anh 07 triệu để mua vật liệu rào ao, cám và vịt giống để nuôi. Trong quá trình nuôi, do ông P nói hết tiền mua thức ăn cho vịt nên phải phá đàn non cho hàng xóm giết thịt. Sau này ông P san lấp ao, gia đình anh ngăn cản, ông P mới nói bố anh bán đất. Về chữ ký trong giấy cam kết đề ngày 16/9/2006, anh khẳng định không ký vào giấy cam kết mà trong thời gian anh đi trại cai nghiện, bố anh có sang thăm gặp và bảo anh ký 02 tờ giấy trắng A4 không có nội dung gì. Anh không đồng ý với yêu cầu khởi khởi kiện của nguyên đơn vì thửa đất đang tranh chấp là thửa đất ông cha để lại, không phải của một mình bố anh. Ngoài ra vẫn còn mẹ anh là bà Q đang ở Trung Quốc vẫn thường xuyên đi về.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Q trình bày: Bà kết hôn với ông Trịnh khắc M2 năm 1979 và đã có 02 con chung là Trịnh Khắc M1 (đã chết) và Trịnh Khắc H. Trong quá trình chung sống, có tạo lập được 1 gian nhà nhỏ trên thửa đất số 555 tờ bản đồ 07 hiện đang có tranh chấp. Trong quá trình bà và ông M2 chung sống do ông M2 suốt ngày rượu chè, không chịu làm ăn nên bà đã sang Trung Quốc làm ăn và vẫn đi về thăm nhà và các con. Bà và ông M2 chưa ly hôn, chưa chia tài sản. Đến khoảng năm 2021, bà mới được con trai là Trịnh K2 hơn thông báo ông M2 chuyển nhượng đất cho ông P và hiện đang tranh chấp. Ông P đã lợi dụng việc chồng bà hay rượu chè say cả ngày nên đã dựng lên việc mua bán đất như đã nêu nhằm chiếm đoạt tài sản và ông M2 chuyển nhượng mà không có sự đồng ý của bà, nên bà đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, xác định hợp đồng mua bán đất giữa ông P và ông M2 là trái pháp luật.
- Bà Trịnh Thị H3 cùng anh Trịnh Khắc T, anh Trịnh Khắc T1, anh Trịnh Khắc T2, anh Trịnh Khắc P3, anh Trịnh Khắc P4, anh P2 (người đại diện theo ủy quyền là bà H3) và bà Trịnh Thị H4 trình bày: Thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc của bố mẹ bà là ông Trịnh Khắc S (chết năm 1995) và bà Nguyễn Thị B (chết năm 2012) để lại, khi ông M2 lấy vợ thì được cho ra đó ở; việc mua bán đất giữa ông P và ông M2 là không đúng và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Các tài liệu Tòa án thu thập được như sau:
Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng cung cấp: Theo sổ mục kê năm 1986 thửa đất tranh chấp là thửa số 555 tờ bản đồ 07 là loại đất thổ cư có diện tích 780m² chủ sử dụng là ông Trịnh Khắc M; theo sổ mục kê năm 1993, thửa đất vẫn giữ nguyên diện tích và chủ sử dụng. Đối với thửa số 518 tờ bản đồ 07 theo sổ mục kê và bản đồ giải thửa năm 1986 có diện tích 220m² là đất 02 lúa, người sử dụng là đội 14; theo sổ mục kê năm 1995 thể hiện là "ao dân" đứng tên ông M. Đến năm 2013, theo sổ mục kê và bản đồ địa chính lập năm 2013 là thửa số 08 tờ bản đồ số 118 có diện tích 1011,7m² chủ sử dụng mang tên ông Trần Đức P. Trong quá trình sử dụng đất, năm 2010 và khoảng năm 2018 và 2019 giữa ông P và gia đình ông M có tranh chấp và được UBND phường H hòa giải nhưng không thành.
Ông Vũ Văn T3 nguyên cán bộ địa chính xã trình bày: Vào thời điểm năm 2006, theo yêu cầu của ông P về việc cắm mốc giới đất theo giấy chuyển nhượng từ trước nên đã cùng ông P, ông M cắm mốc giới đối với thửa số 555. Đối với thửa 518, các bên không yêu cầu cắm mốc giới nên có việc chuyển nhượng hay không ông không nắm được.
Ông Phạm Văn T4 là người làm chứng trình bày: Ông làm nghề chạy xe ôm nên có quen biết ông M. Ông P sau này ông mới biết do được ông M nhờ chở đến gặp ông P để lấy tiền bán đất (về thời gian cụ thể ông không nhớ). Khi ông M đến gặp ông P, ông P có yêu cầu giấy mua bán có chữ ký của con thì mới giao tiền nên đã cùng ông M sang Phi Liệt gặp con trai lớn của ông M (là anh M1) để ký giấy. Sau đó về nhà ông P để lấy tiền (số tiền cụ thể ông không rõ). Ông có ký người làm chứng vào giấy giao nhận tiền cho hai bên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KLĐG ngày 24/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành lập theo Quyết định số 28/2023/QĐ-ĐG ngày 31/01/2023 của Tòa án đã kết luận trị giá thửa đất số 555 là 5.023.200.000 đồng; trị giá thửa đất số 518 là 37.440.000 đồng. Tổng trị giá 02 thửa đất là 5.060.640.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 2 khoản 3 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 38; khoản 4 Điều 91; Điều 144; Điều 147; khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 122, Điều 124, Điều 127, Điều 128, Điều 137, Điều 219, Điều 410, Điều 689 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 127 Luật đất đai năm 2003; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn với ông Trịnh Khắc M và buộc anh Trịnh Khắc H, những người liên quan phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với quyền sử dụng đất của ông Trần Đức P, chị Trần Thị Mai A1.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa số 555 tờ bản đồ số 07 là đất thổ cư có diện tích 728 m² và thửa số 518 tờ bản đồ số 07 có diện tích 288 m² là đất ao liền kề tại thôn T, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng - nay là thửa số 08 tờ bản đồ số 118 có diện tích 1011,7m² tại ngõ A đường H, tổ F phường H, quận D, thành phố Hải Phòng giữa nguyên đơn và ông Trịnh Khắc M vô hiệu.
- Buộc ông P, chị Mai A1 phải hoàn trả đất cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông M là bà Q và anh H.
- Buộc bà Q và anh H phải trả cho ông P, chị Mai A1 số tiền là 2.551.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 25/4/2024, ông Trịnh Khắc H có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, không đồng ý bồi thường cho ông P;
Ngày 27/4/2024, ông Trần Đức P và chị Trần Mai A1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày Nguyên đơn là ông Trần Đức P, bà Trần Mai A1 không rút đơn khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của Nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm.
Bị đơn là ông Trịnh Khắc H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trần Đức P, bà Trần Mai A1 và ông Trịnh Khắc H trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, kháng cáo của ông Trần Đức P, chị Trần Mai A1 và ông Trịnh Khắc H là không có căn cứ; tại phiên tòa hôm nay không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ gì mới nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự xử không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Đức P, chị Trần Mai A1 và ông Trịnh Khắc H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Ngày 25/4/2024, ông Trịnh Khắc H có đơn kháng cáo và ngày 27/4/2024, ông Trần Đức P, chị Trần Mai A1 có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng là trong hạn luật định nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Ngày 25/10/2018, ông Trần Đức P và chị Trần Mai A1 có đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất; trong vụ án có đương sự đang cư trú tại nước ngoài nên theo quy định tại khoản 2 khoản 3 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự do đó thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà K hiện đang cư trú tại Trung Quốc nhưng không xác định được địa chỉ, Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng bà K vẫn vắng mặt; ông D, chị H2, anh T, anh T1, anh T2, bà V, anh P4, anh P3, anh P2, bà Q mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt hoặc có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của anh Trịnh Khắc H, ông Trần Đức P và chị Trần Mai A1 thì thấy:
[2.1] Về nguồn gốc thửa đất có tranh chấp: Theo lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà H3, bà H4 thửa đất tranh chấp có nguồn gốc do các cụ để lại, xong cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho lời khai này. Đơn xin chuyển nhượng nhà đất ngày 03/3/2002, ông M có trình bày diện tích đất do mẹ đẻ là cụ Nguyễn Thị D1 để lại; nhưng cũng trong đơn này, ông Trịnh Khắc G cán bộ địa chính thôn T là anh trai ông M lại xác nhận diện tích chuyển nhượng là đất thổ cư của ông M không có tranh chấp gì. Theo Sổ mục kê năm 1986 thửa đất tranh chấp là thửa số 555, tờ bản đồ 05, loại đất thổ cư có diện tích 780m² chủ sử dụng là ông Trịnh Khắc M (theo giấy trích đo ngày 19/6/2006 có xác nhận của cán bộ địa chính xã ghi tờ bản đồ số 07 có diện tích 728 m²). Theo Bản đồ địa chính lập năm 2013 là thửa số 08, tờ bản đồ số 118 có diện tích 1011,7m² chủ sử dụng mang tên ông Trần Đức P. Thực tế, ông M quản lý sử dụng từ trước đến khi ông P đổ đất năm 2010 thì bà H3 (em gái ông M) ra ngăn cản không cho san lấp và được chính quyền địa phương giải quyết xong không ai có ý kiến gì; và cho đến nay anh chị em ông M cũng chưa có ai có đơn khởi kiện chia thừa kế. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc của bố mẹ ông M sau đó để cho ông M sử dụng là có căn cứ.
[2.2] Bà Q khai kết hôn với ông M năm 1979; tuy không có tài liệu thể hiện ông M và bà Q có đăng ký kết hôn, nhưng thực tế có việc chung sống từ năm 1979 và có 02 con chung là anh Trịnh Khắc M1 và anh Trịnh Khắc H, nên theo quy định tại Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình thì quan hệ giữa ông M và bà Q là hôn nhân thực tế và được công nhận là vợ chồng. Theo quy định tại Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Hồ sơ không có tài liệu nào thể hiện ông M và bà Q đã ly hôn và phân chia tài sản chung. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất tranh chấp là tài sản chung của 02 vợ chồng ông M và bà Q là có căn cứ.
[2.3] Xem xét Đơn xin chuyển nhượng nhà đất ngày 03/3/2002 của ông Trịnh Khắc M gửi UBND xã H, huyện K, (nay là phường H quận D) thành phố Hải Phòng đã được UBND xã xác nhận; Đơn xin cam kết của ông Trịnh Khắc M gửi UBND xã H ngày 16/9/2006 (có chữ ký của anh Trịnh Khắc H và người làm chứng là ông Phạm Văn T4); Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất đã chuyển nhượng ngày 18/9/2006 (có xác nhận của những hộ liền kề, Trưởng thôn, địa chính và UBND xã H) do ông P xuất trình thì thấy: Giao dịch chuyển nhượng giữa ông M và ông P diễn ra năm 2006, nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Bộ luật Dân sự 2005 để giải quyết là đúng. Theo Điều 689 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 167 Luật Đất đai thì “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực..." nên các văn bản nêu trên phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
[2.4] Theo Đơn xin chuyển nhượng nhà đất ngày 03/3/2002 của ông Trịnh Khắc M gửi UBND xã H, huyện K, (nay là phường H, quận D) thành phố Hải Phòng đã được UBND xã xác nhận đối tượng chuyển nhượng là thửa số 555, tờ bản đồ 07 (trong sổ mục kê năm 1986 ghi là thửa số 555, tờ bản đồ 05), diện tích 1.500 m²; giá chuyển nhượng là 100.000.000 đồng. Sau khi tiến hành đo đạc xác định ranh - mốc giới thì thấy diện tích không đúng cam kết chuyển nhượng, nên ông M làm Đơn xin cam kết ngày 16/9/2006 có chữ ký của anh Trịnh Khắc H và người làm chứng là ông Phạm Văn T4 gửi UBND xã H với nội dung đã bán cho ông P thửa số 555, tờ bản đồ 07 nêu trên và cam kết đã nhận đủ tiền bán đất; và ngày 18/9/2006, ông M có viết “Giấy biên nhận tiền và cam kết" xác nhận ông P đã trả đủ tiền và thừa nhận có bán cho ông P thửa đất thổ cư số 555, diện tích 728 m² và thửa đất ao số 518, diện tích 288m², có người làm chứng là ông Phạm Văn T4 ký (BL28), không có xác nhận của chính quyền địa phương. Căn cứ vào các giấy tờ nêu trên và lời trình bày của những người làm chứng, Tòa án cấp sơ thẩm xác định trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2002 đến ngày 18/9/2006, giữa ông Trịnh Khắc M với ông Trần Đức P có giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất thổ cư số 555, tờ bản đồ 07, diện tích 728 m² (trong sổ mục kê năm 1986 là tờ bản đồ 05) và thửa đất ao liền kề số 518, tờ bản đồ 07, diện tích 288m² tại xã H, huyện K (nay là phường H, quận D), thành phố Hải Phòng với số tiền như ông P trình bày là 42.000.000 đồng là có căn cứ.
[2.5] Do Đơn xin chuyển nhượng nhà đất ngày 03/3/2002, ông M thỏa thuận chuyển nhượng cho ông P và chị Trần Mai A1 thửa đất thổ cư số 555, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.500m² với giá 100.000.000 đồng có xác nhận của UBND xã H, nhưng do đo thực tế diện tích chuyển nhượng không đủ, nên giao dịch này không thực hiện được. Đến ngày 16/9/2006, ông M viết Đơn xin cam kết nhưng chỉ có chữ ký của ông M, anh H và người làm chứng là ông T4 gửi UBND xã H không có chữ ký của ông P và chị Mai A1 cũng như của bà Q, anh M1 (thời điểm đó còn sống). Theo quy định tại Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005 “1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất. 2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung...” và Điều 28 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “1. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.... 3. Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận...” thì bất động sản là tài sản có giá trị lớn, việc định đoạt phải do hai vợ chồng thỏa thuận. Như trên đã phân tích, thửa đất tranh chấp nêu trên là tài sản chung của 02 vợ chồng ông M và bà Q; vợ chồng ông M, bà Q không có thỏa thuận định đoạt tài sản chung hoặc không có văn bản thỏa thuận phân chia tài sản; chỉ có một bên ông M tham gia ký kết hợp đồng chuyển nhượng, nên theo quy định tại Điều 410 Bộ luật Dân sự 2005 thì về nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông M với ông P và chị Mai A1 đã vi phạm điều cấm của pháp luật nên vô hiệu, vì hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật nên không áp dụng thời hiệu.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và ông Trịnh Khắc M và buộc anh Trịnh Khắc H và những người liên quan phải chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với quyền sử dụng đất của ông Trần Đức P, chị Trần Thị Mai A1 cũng như đề nghị áp dụng thời hiệu đối với tuyên bố hợp đồng vô hiệu của nguyên đơn là có căn cứ, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Trịnh Khắc H, ông Trần Đức P và chị Trần Mai A1 về vấn đề này.
[2.6] Do hợp đồng vô hiệu nên cần giải quyết hậu quả. Theo quy định tại Điều 410, Điều 137 của Bộ luật Dân sự 2005: “Khi giao dịch vô hiệu, thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận... Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường...” Vì vậy, ông P phải trả lại cho ông M toàn bộ diện tích đất đã nhận chuyển nhượng, ông M phải bồi hoàn cho ông P số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nhận. Do ông M đã chết nên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông M phải thực hiện quyền và nghĩa vụ thay cho ông M. Qua xác minh, ông M có vợ là bà Q và có 02 người con là Trịnh Khắc H và Trịnh Khắc M1. Theo thông tin anh H và gia đình cung cấp thì anh M1 chết năm 2011, anh M1 có vợ là Đinh Thị T5 và 01 con là Đinh Thị T6; nhưng qua xác minh anh M1 và chị T5 không có đăng ký kết hôn và cháu T6 khai sinh không có họ tên bố nên không đủ căn cứ pháp lý xác định cháu T6 là con của anh M1. Sau này nếu giữa cháu T6 và gia đình anh H có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông P phải hoàn trả đất cho người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông M là bà Q và anh H; bà Q và anh H phải hoàn trả cho ông P số tiền 42.000.000 đồng đã nhận là có căn cứ.
[2.7] Theo Kết luận định giá tài sản số 02/KLĐG ngày 24/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành lập theo Quyết định số 28/2023/QĐ-ĐG ngày 31/01/2023 của Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định trị giá thửa đất số 555 là 5.023.200.000 đồng; trị giá thửa đất số 518 là 37.440.000 đồng. Tổng trị giá 02 thửa đất là 5.060.640.000 đồng. Do hợp đồng vô hiệu nên chênh lệch giá trị thửa đất hiện tại và giá chuyển nhượng là thiệt hại thực tế do ông M với ông P, chị Mai A1 gây ra và được xác định là 5.060.000.000 đồng - 42.000.000 đồng = 5.018.000.000 đồng là có căn cứ.
[2.8] Đất là của vợ chồng ông M, ông M tự ý định đoạt việc chuyển nhượng đất mà không có sự bàn bạc, trao đổi với vợ là bà Q; ông P khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất biết ông M có vợ con (yêu cầu phải có chữ ký của anh H là con của ông M) nhưng khi không có ý kiến của bà Q vẫn nhận chuyển nhượng. Tòa án cấp sơ thẩm xác định lỗi ông M và ông P là ngang nhau, để buộc mỗi bên phải chịu 1/2 thiệt hại là 5.018.000.000 đồng/2 = 2.509.000.000 đồng; để buộc ông P, chị Mai A1 trả lại đất cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông M là bà Q và anh H và buộc người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông M là bà Q và anh H phải trả cho ông P, chị Mai A1 42.000.000 đồng và bồi thường cho ông P và chị Mai A1 số tiền 2.509.000.000 đồng, tổng cộng là 2.551.000.000 đồng khi các bên đều không có yêu cầu gì về công sức tôn tạo, phát triển thửa đất là có căn cứ, phù hợp với pháp luật, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các đương sự về vấn đề này.
[3] Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết mới, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các đương sự và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Trịnh Khắc H và chị Trần Mai A1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật; ông Trần Đức P là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miến án phí theo quy định cảu pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
- Không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của anh Trịnh Khắc H, ông Trần Đức P và chị Trần Mai A1; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2024/DS-ST ngày 17/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng;
- Về án phí: Anh Trịnh Khắc H và chị Trần Mai A1 mỗi người phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm anh H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000365 ngày 20/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, chị Trần Mai A1 đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000358 ngày 16/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Xác nhận anh Trịnh Khắc H và chị Trần Mai A1 đã thi hành xong khoản tiền nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trần Đức P.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phan Nam |
Bản án số 508/2024/DS-PT ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
- Số bản án: 508/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất và chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
