TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 508/2025/DS -ST Ngày: 20-06-2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thu Thảo
- Ông Đỗ Quang Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thúy Hà- Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 97/2025/TLST-DS ngày 13/01/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 622/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 05 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 855/2025/QĐST-DS ngày 28/8/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S
Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D
Bên nhận ủy quyền: Công ty TNHH MTV quản lý nợ và khai thác tài sản ngân hàng S1 (Công ty S2)
Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Đình L – sinh năm 1998 (Có đơn xin vắng mặt)
Văn bản ủy quyền: số 8459/2024/UQ-TGĐ ngày 22/11/2024
Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Thái N – sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A Hòa Bình, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/12/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng S1 (Gọi tắt Ngân hàng S1) do ông Nguyễn Đình L là người đại diện theo ủy quyền có lời khai thể hiện:
Ngày 25/01/2019Thái Nhì và Ngân hàng S1 có ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Hạn mức tín dụng là 25.000.000đồng.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 281.633.174Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 268.481.930đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 3 của bản điều khoản và điều kiện vay tiêu dùng trên ứng dụng S3).
Ngày 26/06/2021 Ngân hàng đã chấm dứt và chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn (Điều 5 của bản điều khoản và điều kiện phát hành vay tiêu dùng trên ứng dụng S3).
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông N, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ. Tuy nhiên ông N vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng S4, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề, cụ thể:
- *Số thẻ 356481 – 7302
- Nợ gốc: 16.227.819 đồng
- Nợ lãi quá hạn: 30.779.064 đồng
- Tổng cộng: 47.006.883 đồng
- Mức tính lãi suất: 3.9%(2.6%*150%)
- *Số thẻ 3949586071
- Nợ gốc: 10,709,235 đồng
- Nợ lãi quá hạn: 12.084.800 đồng
- Tổng cộng: 22,794.035 đồng
- Mức tính lãi suất: 2.325%(1.55%*150%).
- Tổng cộng: 69.800.918 đồng.
Tiền lãi này tính đến ngày 20/06/2025.
Buộc ông N phải thanh toán một lần số tiền trên ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông N có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 21/06/2025theo hợp đồng thẻ tín dụng đã ký cho đến khi trả dứt nợ.
2
Tại phiên tòa hôm nay: Ngân hàng S1 do ông Nguyễn Đình L là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Thái N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và Hợp đồng thẻ tín dụng, xác định đây là quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Do bị đơn cư trú tại quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú.
Thời hạn tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng : Xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
Về thu thập chứng cứ : Thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án : Nguyên đơn Ngân hàng S1 khởi kiện yêu cầu ông N trả số tiền vay còn thiếu theo Hợp đồng thẻ tín dụng hai bên đã ký kết cùng với tiền lãi tổng cộng số tiền là 69.800.918 đồng và thanh toán một lần ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Căn cứ yêu cầu khởi kiện, Hợp đồng thẻ tín dụng, lời trình bày của nguyên đơn, chứng cứ thu thập được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện ông N có vay tiền của Ngân hàng thông qua hình thức sử dụng tài khoản thẻ tín dụng. Ông N có sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán tiền và giao dịch mua hàng hóa nhưng chưa trả lại tiền cho ngân hàng. Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S1.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét, đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hợp đồng thẻ tín dụng ký ngày 30/09/2020giữa Ngân hàng S1 với ông Thái N, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Do bị đơn cư trú tại quận T nên Toà án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Nguyên đơn Ngân hàng S1 do ông Nguyễn Đình L là người đại diện theo ủy quyền của có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Thái N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
3
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay bị đơn ông N không có mặt để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ. Ông N đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ, yêu cầu của phía nguyên đơn Ngân hàng S1 để xem xét giải quyết vụ án.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
Xét, Ngân hàng S1 yêu cầu ông N phải thanh toán số tiền còn nợ, cụ thể:
- *Số thẻ 356481 – 7302
- Nợ gốc: 16.227.819 đồng
- Nợ lãi quá hạn: 30.779.064 đồng
- Tổng cộng: 47.006.883 đồng
- *Số thẻ 3949586071
- Nợ gốc: 10.709.235 đồng
- Nợ lãi quá hạn: 12.084.800 đồng
- Tổng cộng: 22,794.035 đồng
- Tổng cộng: 69.800.918 đồng.
Nợ lãi này tính đến ngày 20/06/2025.
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Hợp đồng thẻ tín dụng giữa Ngân hàng S1 với ông N ký ngày 25/01/2019, thể hiện: Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông N thực hiện giao dịch với tổng số tiền là 281.633.174đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng S1 số tiền là 268.481.930. Ông N ngưng thanh toán từ tháng 06/2021, Ngân hàng nhiều lần gửi văn bản nhắc nợ nhưng ông N vẫn chưa thanh toán tiếp. Ông N vi phạm nghĩa vụ trả nợ được cam kết trong Hợp đồng thẻ tín dụng là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp cho Ngân hàng S1. Căn cứ các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S1 là có cơ sở để chấp nhận.
[4] Về thời hạn thanh toán:
Xét, Ngân hàng S1 yêu cầu ông N thanh toán một lần số tiền nợ gốc và nợ lãi còn thiếu ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Hợp đồng thẻ tín dụng hai bên ký kết, ông N ngừng thanh toán từ tháng 06/2021 đến nay là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S1 là có cơ sở để chấp nhận.
[5]Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S1 được chấp nhận nên bị đơn ông N phải chịu án phí trên số nợ phải thanh toán là 69.800.918 đồng x 5% = 3.490.000đồng
H lại tiền tạm ứng án phí là 1.536.312 đồng cho Ngân hàng S1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi bổ sung năm 2017);
- - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S1.
- Buộc ông Thái N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 số tiền, cụ thể:
- *Số thẻ 356481 – 7302
- Nợ gốc: 16.227.819 đồng
- Nợ lãi quá hạn: 30.779.064 đồng
- Tổng cộng: 47.006.883 đồng
- *Số thẻ 3949586071
- Nợ gốc: 10,709,235 đồng
- Nợ lãi quá hạn: 12.084.800 đồng
- Tổng cộng: 22,794.035 đồng
- Tổng cộng: 69.800.918 đồng (Sáu mươi chín triệu tám trăm ngàn chín trăm mười tám đồng ).
Nợ lãi này tính đến ngày 20/06/2025.
Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Từ ngày 21/06/2025 ông Thái N phải chịu lãi suất theo Hợp đồng tín dụng thẻ ký ngày 25/01/2019 cho đến khi thi hành xong các khoản nợ.
- Án phí dân sự sơ thẩm: 3.490.000 đồng (Ba triệu bốn trăm chín mươi ngàn đồng) ông Thái N phải chịu.
H lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 số tiền là 1.536.312 đồng (Một triệu năm trăm ba mươi sáu ngàn ba trăm mười hai đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0045675 ngày 08/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
5
7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |
6
Bản án số 508/2025/DS -ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 508/2025/DS -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
