|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 508/2024/HS-ST
Ngày: 30-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Văn Triều
2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa trực tuyến công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 745/2024/TLST-HS, ngày 03/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 5178/2024/QĐXXST-HS ngày 16/10/2024, phiên tòa được tiến hành tại hai điểm cầu, trong đó điểm cầu trung tâm là phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, điểm cầu thành phần là phòng xử án tại Trại tạm giam C (T) Công an Thành phố H, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M; giới tính: Nam; sinh ngày: 19/3/1981, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; hộ khẩu thường trú: thôn A, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên - Huế; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: bán vé số; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1954 và bà Ngô Thị T, sinh năm 1953; bị cáo có vợ là Phan Thị P, sinh năm 1981 và có 01 người con tên Nguyễn Văn N, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 25/3/2024 đến nay. (Có mặt tại điểm cầu thành phần là phòng xử án tại Trại tạm giam Chí Hòa Công an Thành phố H)
- Bị hại: Ông Albert Asa W, sinh năm 1991, Quốc tịch: Mỹ,
Nơi thường trú: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, số hộ chiếu P 587489473, cấp ngày 03/7/2018, tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; Nơi tạm trú: F B, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
- Người phiên dịch: Lê Thanh S, sinh năm 1991,
Địa chỉ: G Y, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 10/3/2024, anh Albert Asa W (sinh năm 1991, Quốc tịch: Mỹ) đến quán Bar C tại số B Đ, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để uống nước. Đến khoảng 04 giờ 00 phút cùng ngày, anh Albert Asa W để một chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 màu vàng, dung lượng 256GB ở trên bàn uống nước rồi đi qua các bàn bên cạnh nói chuyện với bạn bè. Lúc này Nguyễn Văn M cũng đang uống bia tại quán Bar C, khi thấy anh A Asa Watts để điện thoại trên bàn không có người trông coi thì M nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại nêu trên. Mẽ đi đến vị trí chiếc điện thoại và dùng tay trái lấy trộm chiếc điện thoại rồi chuyền qua tay phải, bỏ điện thoại vào túi quần bên phải, sau đó M đi ra trước cửa quán lấy điện thoại từ túi quần bên phải và bỏ vào bên trong áo của M đang mặc cất giấu chiếc điện thoại và rời khỏi quán. Mẽ đem điện thoại vừa lấy trộm được đến trước nhà số A, Lô C, chung cư L, Phường G, Quận A bán cho 01 người đàn ông không rõ lai lịch (ngoài lề đường) với giá 1.200.000 đồng, số tiền này M đã tiêu xài cá nhân hết.
Đối với anh Albert Asa W, sau khi bị mất điện thoại đã đến Công an phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã chuyển nguồn tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H để thụ lý theo thẩm quyền. Đến ngày 30/3/2024, anh Albert Asa W xuất cảnh về lại Mỹ.
Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh xác định Nguyễn Văn M là người đã thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại di động của anh A Asa Watts tại quán Bar C tại số B Đ, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên ngày 25/3/2024 đã tiến hành khởi tố và bắt tạm giam bị can đối với Nguyễn Văn M để điều tra theo quy định. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 23/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, loại 14 plus, màu vàng, dung lượng 256GB đã qua sử dụng vào thời điểm tháng 3/2024 có giá là 15.000.000 đồng.
* Vật chứng của vụ án:
- - 01 USB màu đen, bên trong có chứa hình ảnh, video liên quan vụ việc trộm cắp tài sản ngày 10/3/2024 (đi theo hồ sơ vụ án);
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Plus màu vàng, dung lượng 256GB, không rõ số imei, hiện không thu hồi được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã thông báo truy tìm vật chứng nhưng chưa có kết quả;
- - Thu giữ của Nguyễn Văn M 01 mũ lưỡi trai màu đỏ, 01 áo thun màu đen có hoa văn, 01 quần thun thể dục có hai sọc màu trắng là trang phục Nguyễn Văn M mang trên người khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã tiến hành nhập kho vật chứng theo quy định.
* Trách nhiệm dân sự: anh Albert Asa W yêu cầu bồi thường chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, loại 14 plus, màu vàng, dung lượng 256GB bị Nguyễn Văn M chiếm đoạt vào ngày 10/3/2024.
Tại Bản cáo trạng số: 630/CT-VKS-P2 ngày 01 tháng 10 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 của N1.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:
- - Bị cáo Nguyễn Văn M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả của tội phạm mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội: “Trộm cắp tài sản”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51: Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 của N1, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M: từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 25/03/2024.
Trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại A1 giá trị chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, loại 14 plus, màu vàng, dung lượng 256GB, được định giá là 15.000.000 đồng. Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng, quyền kháng cáo và các vấn đề khác của vụ án theo quy định pháp luật.
- - Bị cáo Nguyễn Văn M không tự bào chữa, đồng thời xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm lại cuộc đời và lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Qua thẩm tra xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám xét, dữ liệu trích xuất từ camera, biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong; kết luận định giá, lời khai của bị cáo, bị hại, biên bản đối chất và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 10/3/2024, anh Albert Asa W (sinh năm 1991, Quốc tịch: Mỹ) đến quán Bar C tại số B Đ, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để uống nước và để một chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 màu vàng ở trên bàn uống nước rồi đi qua các bàn bên cạnh nói chuyện với bạn bè, thì Nguyễn Văn M thấy điện thoại trên bàn không có người trông coi đã lấy trộm và đem bán cho 01 người đàn ông không rõ lai lịch (ngoài lề đường) với giá 1.200.000 đồng, để tiêu xài cá nhân. Theo Kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 23/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, loại 14 plus, màu vàng, dung lượng 256GB đã qua sử dụng vào thời điểm tháng 3/2024 có giá là 15.000.000 đồng
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 của N1.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự, trị an và an ninh xã hội, thể hiện ý thức coi thường và bất chấp pháp luật. Bị cáo là người trên 18 tuổi và không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Văn M có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trên đây là các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Từ nhận định trên Hội đồng xét xử thấy bị cáo Nguyễn Văn M có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, song đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, nhất là người nước ngoài làm ảnh hưởng đến hình ảnh của đất nước Việt nam. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và phải buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung, cũng để bị cáo có thời gian tự rèn luyện trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật.
[3] Từ đó, Hội đồng xét xử thấy bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở để chấp nhận, đồng thời, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo, cũng như đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng.
[4] Đối với người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch là người đã mua chiếc điện thoại Iphone 14 màu vàng, dung lượng 256GB từ Nguyễn Văn M. M khai khi bán điện thoại thì không nói cho người mua biết điện thoại trên là do M trộm cắp được. Do Cơ quan điều tra chưa thu thập được các tài liệu liên quan đến việc mua bán chiếc điện thoại nêu trên nên chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ và xử lý sau, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp nên không xem xét và đề cập đến trong vụ án này.
[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, bị hại đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[6] Trách nhiệm dân sự: Ông Albert Asa W yêu cầu bồi thường chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, loại 14 plus, màu vàng, dung lượng 256GB. Do không thu hồi được, nên buộc bị cáo phải bồi thường cho ông A Asa Watts số tiền là 15.000.000 đồng theo các quy định của pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 mũ lưỡi trai màu đỏ, 01 áo thun màu đen có hoa văn, 01 quần thun thể dục có hai sọc màu trắng là trang phục Nguyễn Văn M mang trên người khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử thấy vật chứng này không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo các quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 của N1,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M: 09 (chín) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản.” Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/3/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Áp dụng các Điều 357, 468; 584; 585; 589 Bộ luật dân sự năm 2015 của N1,
Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải bồi thường cho bị hại Albert Asa W số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu) đồng. Việc thực hiện giao nhận tiền trên tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền hoặc giao nhận trực tiếp ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả cho bên được thi hành án theo mức lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; căn cứ khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 của N1,
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mũ lưỡi trai màu đỏ, 01 (một) áo thun màu đen có hoa văn, 01 (một) quần thun thể dục có hai sọc màu trắng.
(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK2025/021 ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 của N1 và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án của Ủy ban thường vụ quốc Hội;
Bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 750.000 (Bảy trăm năm mười nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 của N1,
Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30 tháng 10 năm 2024) để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Bị hại vắng mặt, mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Hồng Sơn |
Bản án số 508/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 508/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M phạm tội Trộm cắp tài sản
