Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 508/2024/HS-PT

Ngày: 09-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương

Các thẩm phán: Bà Hà Thị Thanh Nữ

Bà Nguyễn Thị Quyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 372/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đức L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 403/2024/HSST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 467/2024/QĐXXPT-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024.

Họ và tên: Nguyễn Đức L, tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh năm 1984, tại Thừa Thiên Huế.

- Nơi đăng ký thường trú: Thôn M, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Nơi ở: Tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: Lớp 05/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ổ, sinh năm 1958 (Đã chết) và con bà Hoàng Thị V, sinh năm 1959 (Còn sống). Gia đình bị cáo có 07 chị em, bị cáo là con thứ ba. Có vợ Lô Thị Đ, sinh năm 1983 (bỏ đi biệt tích từ năm 2016). Có 02 con, sinh năm 2007 và sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25-3-2024 đến ngày 02-4-2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án: Khoảng tháng 01 năm 2024, Nguyễn Đức L thuê nhà địa chỉ tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai của bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961 (ngụ tại tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) để ở và mở quầy bán vé số tại nhà. Để có thêm tiền tiêu xài, vào ngày 25-3-2024, L thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề trực tiếp thắng thua bằng tiền với những người (không rõ nhân thân, lai lịch).

Cách thức đánh bạc: Hằng ngày, dựa vào kết quả xổ số kiến thiết của các Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X khu vực miền N, người mua đề trực tiếp đến quầy bán vé số tại địa chỉ nêu trên gặp L để mua số đề. Khi ghi đề cho khách, L sẽ ghi số đề và số tiền ghi đề của từng người mua đề trên 01 (Một) tờ giấy (phơ đề) và sử dụng giấy than để in phơ đề ra, sau đó L đưa cho người mua đề bản in bằng giấy than để làm căn cứ lấy tiền thắng đề sau khi có kết quả xổ số. Còn L giữ lại bản chính để tính tiền đánh bạc thắng thua trực tiếp với người mua đề. Để khuyến khích nhiều người mua đề, L khuyến mãi giảm từ 17% đến 22% trên tổng số tiền mua đề cho người mua đề.

Cách thức tính tiền thắng thua: Nếu người mua đề chọn 02 số trùng với 02 số đầu của giải tám hoặc 02 số cuối của giải đặc biệt hoặc bao lô 02 số cuối của toàn bộ 18 lô xổ số thì thắng được số tiền gấp 70 lần số tiền đã mua đề. Nếu người mua đề mua bao lô 03 số cuối của 17 lô xổ số từ giải bảy đến giải đặc biệt thì thắng được số tiền gấp 600 lần số tiền đã mua đề. Nếu người mua đề mua 01 cặp 02 số đá (ví dụ 72, 54) hoặc 01 cặp 03 số đá (ví dụ 38, 54, 84) trùng với 02 số cuối của toàn bộ 18 lô xổ số thì thắng được số tiền gấp 350 lần số tiền đã mua đề. Ngược lại, nếu người mua đề chọn những số không trùng với kết quả xổ số nêu trên thì L được hưởng toàn bộ số tiền của người mua đề.

Ngày 25-3-2024, L đã ghi đề cho 10 người (không rõ tên, địa chỉ) với số tiền mua số đề là 6.413.500₫ (Sáu triệu bốn trăm mười ba nghìn năm trăm đồng). Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, khi chưa có kết quả mở thưởng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết Thành phố X, L đang ghi số đề cho Đồng Văn T (sinh năm 1990, ngụ tổ D, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) với số tiền 85.000đ (Tám mươi lăm nghìn đồng) thì bị Công an thành phố B phối hợp Công an phường T kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Tổng số tiền L ghi đề ngày 25-3-2024 là 6.498.500₫ (Sáu triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn năm trăm đồng). Sau khi trừ tiền khuyến mãi, L thu được số tiền 5.061.000đ (Năm triệu không trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Nguyễn Đức L khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

  • 01 (Một) tờ giấy ghi đề kích thước khoảng 06x09cm có chữ ký xác nhận của Đồng Văn T và 01 (Một) tờ giấy phơi đề tổng hợp số đề kích thước khoảng 15x15cm có chữ ký xác nhận của Nguyễn Đức L (lưu giữ trong hồ sơ vụ án).
  • Thu giữ trên người Nguyễn Đức L số tiền 5.061.000đ (Năm triệu không trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) là tiền ghi đề ngày 25-3-2024.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu giữ và giao trả 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A52 cho Nguyễn Đức L do không liên quan đến vụ án.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đức L khai từ ngày 15-3-2024 đến ngày 24-3-2024 tại tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, L đã ghi số đề cho nhiều người (không rõ nhân thân, lai lịch và số tiền mua đề của mỗi người) với tổng số tiền từ 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng) đến 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng)/ ngày. Tổng cộng số tiền L đã bán số đề các ngày nêu trên là 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nhưng L đã trả tiền thắng đề cho một số người thắng đề (không rõ nhân thân, lai lịch) tổng cộng 5.300.000đ (Năm triệu ba trăm nghìn đồng) và bị thua nên L chưa thu lợi bất chính từ việc ghi số đề; L đã tiêu hủy phơi đề vào cuối ngày.

Tại Bản án số 403/2024/HSST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L mức án từ 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc".

Ngày 15/8/2024, bị cáo có đơn kháng cáo xin chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Đức L về tội “Đánh bạc” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo bị cáo 07 (bảy) tháng tù, là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, không nặng như nội dung kháng cáo của bị cáo đã nêu. Sau khi xét xử bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt, hoặc chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới để xem xét. Do đó, không có căn cứ để xem xét theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của bản án sơ thẩm đã nêu, thể hiện: Ngày 25-3-2024, bị cáo Nguyễn Đức L đã ghi đề cho 10 người (không rõ tên, địa chỉ) với số tiền mua số đề là 6.413.500₫ (Sáu triệu bốn trăm mười ba nghìn năm trăm đồng). Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, khi chưa có kết quả mở thưởng của Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết Thành phố X, Nguyễn Đức L đang ghi số đề cho Đồng Văn T (sinh năm 1990, ngụ tổ D, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) với số tiền 85.000đ (Tám mươi lăm nghìn đồng) thì bị Công an thành phố B phối hợp Công an phường T kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Mức án mà cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là 07 (bảy) tháng tù là phù hợp với, tính chất mức độ và hành vi của bị cáo đã thực hiện.

[3] Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được án treo hoặc chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn. Hội đồng xét xử xét thấy:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình xét xử, cấp sơ thẩm đã xác định trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Ngoài những tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã xem xét, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, trong quá trình tại ngoại bị cáo luôn chấp hành chính sách pháp luật, số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc ít, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hiện vợ bị cáo đã bỏ đi biệt tích, một mình bị cáo đang nuôi 02 người con còn nhỏ (lớn sinh năm 2007 nhỏ sinh năm 2009) bị cáo là lao động chính trong gia đình. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để xem xét theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử chuyển hình phạt tù của bị cáo chuyển sang hình phạt tiền buộc các bị cáo phải chấp hành thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai không phù hợp xử với Hội đồng xét nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức L, sửa Bản án sơ thẩm số 403/2024/HSST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).

Bị cáo bị xét xử về tội “Đánh bạc”

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (3)
  • - Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa (2);
  • - Công an TP. Biên Hòa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân TP. Biên Hòa
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (5).

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Kiều Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 508/2024/HS-PT ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - đánh bạc (phúc thẩm)

  • Số bản án: 508/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 25-3-2024, L đã ghi đề cho 10 người (không rõ tên, địa chỉ) với số tiền mua số đề là 6.413.500đ (Sáu triệu bốn trăm mười ba nghìn năm trăm đồng). Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, khi chưa có kết quả mở thưởng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết Thành phố H, L đang ghi số đề cho Đồng Văn Th (sinh năm 1990, ngụ tổ 41, khu phố 4C, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) với số tiền 85.000đ (Tám mươi lăm nghìn đồng) thì bị Công an thành phố B phối hợp Công an phường Tr kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền L ghi đề ngày 25-3-2024 là 6.498.500đ (Sáu triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn năm trăm đồng). Sau khi trừ tiền khuyến mãi, Lập thu được số tiền 5.061.000đ (Năm triệu không trăm sáu mươi mốt nghìn đồng).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger