Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 507/2024/DS-PT

Ngày: 12-12-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
  • Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Phúc.
  • Ông Đặng Văn Những.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
  • - Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát - Kiểm sát viên.

Vào ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 482/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 126/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 565/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Võ Hồng C, sinh năm 1974.
  2. Địa chỉ: Số nhà B, Ấp F, xã V, huyện C, tỉnh Long An.

  3. Bị đơn:
    1. Bà Lê Thị M, sinh năm 1966.
    2. Ông Trần Ngọc H, sinh năm 1966.

    Cùng địa chỉ: Số nhà E, Ấp D, xã H, huyện C, tỉnh Long An.

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1973.
    2. Địa chỉ: Số nhà B, Ấp F, xã V, huyện C, tỉnh Long An.

    3. Ông Trần Ngọc H1, sinh năm 1985.
    4. Địa chỉ: Số nhà E, Ấp D, xã H, huyện C, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bà Lê Thị M.

(Các đương sự có mặt;

Ông H có đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn trình bày trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án:

Ngày 06 tháng 7 năm 2022, bà M và ông H vay của ông C số tiền là 400.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm, thỏa thuận lãi suất là 1,5%/tháng, bà M và ông H có ký hợp đồng vay tiền. Sau khi vay tiền thì bà M và ông H không thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay và tiền lãi cho ông C.

Nay ông C yêu cầu bà M và ông H (chồng bà M) có nghĩa vụ liên đới trả cho ông C số tiền vay là 400.000.000 đồng, yêu cầu bà M và ông H trả tiền lãi từ ngày 06/7/2022 đến ngày 06/11/2023 là 16 tháng, bà M đã trả 02 tháng, còn lại 14 tháng, cụ thể như sau: 400.000.000 đồng x 14 tháng x 1,5%/tháng = 84.000.000 đồng. Yêu cầu trả một lần trong thời gian ngắn.

Trước đây, bà M và ông H nợ ông C số tiền là 600.000.000 đồng, bà M đã trả cho ông C số tiền là 200.000.000 đồng, nên hai bên ký hợp đồng vay tiền với số tiền là 400.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông C đồng ý giảm cho bà M và ông H số tiền lãi là 34.000.000 đồng. Ông C yêu cầu bà M và ông H trả cho ông C số tiền vay là 400.000.000 đồng, tiền lãi là 50.000.000 đồng.

Bà Lê Thị M là bị đơn trình bày:

Vào năm 2019, bà M vay tiền của người khác, số tiền là 100.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1973 (vợ ông C) thấy bà M trả tiền lãi đầy đủ, nên bà D đề nghị là bà D đưa tiền cho bà M trả tiền gốc cho người đó, bà D cho bà M vay tiền, bà M trả tiền lãi cho bà D. Ngày 30 tháng 7 năm 2019, bà M vay của bà D số tiền là 150.000.000 đồng, lãi suất là 6%/tháng, mỗi tháng bà M trả cho bà D số tiền lãi là 9.000.000 đồng. Bà M đã trả tiền lãi cho bà D được 16 tháng, số tiền lãi đã trả là 144.000.000 đồng.

Ngày 15 tháng 01 năm 2022, bà M hốt 02 dây hụi, mỗi phần hụi là 3.000.000 đồng, mỗi dây là 17 phần, tổng số tiền hốt hụi của 02 dây là 102.000.000 đồng. Bà M có nợ hụi đối với bà D dây hụi khác với số tiền là 40.000.000 đồng. Tổng số tiền vay và tiền hụi bà M nợ bà D là 292.000.000 đồng.

Bà D yêu cầu bà M và ông H ký hợp đồng vay tiền với ông C, ông C tính tiền lãi của số tiền vay và tiền hụi bà M còn nợ, nhập vào tiền vay và tiền hụi thành số tiền là 400.000.000 đồng, ông C yêu cầu bà M và ông H ký hợp đồng vay tiền với số tiền là 400.000.000 đồng. Bà M có chuyển nhượng đất lấy tiền trả cho nhiều người, bà M đã trả cho ông C số tiền là 200.000.000 đồng, trả vào tháng 4 năm 2022.

Nay ông C yêu cầu bà M và ông H trả cho ông C số tiền là 400.000.000 đồng thì bà M không đồng ý. Bà M đồng ý trả cho ông C số tiền là 200.000.000 đồng (gồm cả tiền gốc và tiền lãi), khi nào bà M chuyển nhượng được đất thì bà M sẽ trả cho ông C.

Ngoài số tiền trên, bà M và ông H không có vay, không có nợ ông C số tiền lên đến 600.000.000 đồng như ông C trình bày. Bà M vay tiền, hốt hụi để xây dựng nhà ở.

Ông Trần Ngọc H là bị đơn vắng mặt, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Bà Nguyễn Thị D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà D là vợ ông Võ Hồng C, trước đây bà D có làm chủ hụi, bà M có tham gia các dây hụi nhưng đã giải quyết xong vào khoảng cuối năm 2021. Số tiền 400.000.000 đồng mà bà M nợ ông C là tiền vay, không có tiền hụi. Số tiền vay trên là tài sản chung của vợ chồng bà D. Bà D thống nhất với trình bày và yêu cầu của ông C. Bà M trả cho vợ chồng bà D số tiền là 200.000.000 đồng trước khi hai bên ký hợp đồng vay tiền, trả cho khoản tiền vay và tiền hụi trước đó.

Ông Trần Ngọc H1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông H1 là con bà M và ông H, khoảng tháng 4 năm 2022, bà M và ông H chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bà M nhờ ông H1 lấy tiền trả cho bà D số tiền là 200.000.000 đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 126/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An đã căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 229, 235, 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng các Điều 288, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của ông Võ Hồng C về việc trả tiền vay, buộc bà Lê Thị M và ông Trần Ngọc H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Võ Hồng C số tiền vay là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

    Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành án, thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Về án phí: Ông Võ Hồng C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trả lại cho ông Võ Hồng C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.680.000 đồng (mười một triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008839 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.

Bà Lê Thị M và ông Trần Ngọc H có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 22.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.

Ngày 12/9/2024, bà Lê Thị M kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng bà chỉ đồng ý trả số tiền còn nợ 158.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Ông Võ Hồng C trình bày:

Số tiền ông cho bà M vay 400.000.000 đồng theo giấy nợ ngày 06/7/2022 do bà M, ông H ký nhận, không liên quan đến số tiền nợ vay và hụi giữa bà M và bà D. Ông đồng ý không tính tiền lãi, chỉ yêu cầu bà M, ông H trả cho ông số tiền vay 400.000.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị D trình bày:

Số tiền vay và hụi giữa bà và bà M đã trả xong, bà M không còn nợ bà gì nữa, số tiền 400.000.000 đồng ông C cho bà M vay không liên quan đến số tiền giữa bà và bà M. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà M.

Bà Lê Thị M trình bày:

Bà có tham gia chơi hụi và vay tiền của bà D, có nợ bà D 200.000.000 đồng (số tiền vay là 150.000.000 đồng, tiền nợ hụi 158.000.000 đồng), sau đó bà D tính tiền lãi yêu cầu bà viết giấy nợ với ông C số tiền 400.000.000 đồng. Bà đã trả cho bà D 200.000.000 đồng, bà đồng ý trả số tiền còn nợ là 200.000.000 đồng.

Ông Trần Ngọc H1 trình bày:

Ông và mẹ ông có trả cho bà D 200.000.000 đồng, không nhớ chính xác thời gian nào, khoảng tháng 4/2022. Khi trả thì hai bên không có lập biên bản giao nhận tiền. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà M, bà M đồng ý trả số tiền còn nợ là 200.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bà Lê Thị M đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Nội dung kháng cáo: Bà Lê Thị M kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bà chỉ đồng ý trả cho số tiền 158.000.000 đồng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự và xét kháng cáo của bà Lê Thị M, thấy rằng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M cho rằng vợ chồng ông C, bà D tính tiền lãi của số tiền vay và tiền hụi bà M còn nợ, nhập vào tiền vay và tiền hụi thành số tiền là 400.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền ghi ngày 06/7/2022 do ông C cung cấp và bà M có cung cấp giấy tờ chiết tính tiền ghi ngày 25/4/2022 ÂL để chứng minh số tiền nợ 400.000.000 đồng này. Đồng thời, bà M cho rằng đã trả được số tiền là 200.000.000 đồng nên chỉ đồng ý trả số tiền 200.000.000 đồng còn nợ. Tuy nhiên, ông C, bà D không thừa nhận và cho rằng chứng cứ bà M cung cấp là khoản tiền nợ giữa bà D với bà M đã tất toán xong, số tiền 200.000.000 đồng bên bà M trả cũng là trả cho khoản nợ này, còn khoản nợ 400.000.000 đồng của ông C theo hợp đồng vay tiền ghi ngày 06/7/2022 là khoản nợ vay khác.

Xét thấy, nội dung hợp đồng vay tiền giữa ông C với bà M, ông H ghi ngày 06/7/2022 thể hiện số tiền vay là 400.000.000 đồng, bị đơn bà M đã thừa nhận có ký tên vào hợp đồng này. Bà M cho rằng vợ chồng ông C đã cộng gộp tiền vay, tiền hụi và lãi thành số tiền vay 400.000.000 đồng và có đưa ra chứng cứ là giấy tờ chiết tính tiền ghi ngày 25/4/2022 ÂL với tổng số tiền nợ 400.000.000 đồng để chứng minh là cùng một khoản nợ; tuy nhiên ông C, bà D không thừa nhận. Bà M cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh, đồng thời trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm bà M cũng thừa nhận rằng số tiền 200.000.000 đồng được trả vào tháng 4 năm 2022 trong khi đó hợp đồng vay tiền mà bà M ký tên ghi ngày 06/7/2022 là sau thời điểm trả tiền. Bên cạnh đó, tại phiên tòa phúc thẩm bà M cũng thừa nhận rằng từ khi ký vào hợp đồng vay này thì bà M chưa trả thêm bất kỳ khoản tiền nào cho vợ chồng ông C. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C buộc bà M và ông H liên đới trả số tiền vay còn nợ 400.000.000 đồng và số tiền lãi 50.000.000 đồng là có cơ sở.

Tại phiên tòa phúc thẩm, vợ chồng ông C, bà D tự nguyện giảm toàn bộ tiền lãi 50.000.000 đồng cho bà M, ông H, chỉ yêu cầu trả tiền gốc vay là 400.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận sự tự nguyện của vợ chồng ông C, bà D về việc giảm cho bà M, ông H toàn bộ tiền lãi 50.000.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS 2015 đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng buộc bà M, ông H có nghĩa vụ trả số tiền gốc vay là 400.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Lê Thị M thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

  2. Về thủ tục xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H.

  3. Xét kháng cáo của bà Lê Thị M, thấy rằng:

    • [3.1] Ông C yêu cầu bà M và ông H (chồng bà M) có nghĩa vụ liên đới trả cho ông C số tiền vay là 400.000.000 đồng theo giấy nợ ngày 06/7/2022. Bà M và ông H thừa nhận có ký hợp đồng vay tiền đối với ông C số tiền là 400.000.000 đồng, nhưng chỉ vay số tiền 150.000.000 đồng và tiền hụi bà M nợ bà D là 158.000.000 đồng, còn lại là tiền lãi. Bà M và ông H cho rằng đã trả cho bà D số tiền là 200.000.000 đồng, bà M chỉ đồng ý trả số tiền còn nợ là 200.000.000 đồng.

    • [3.2] Căn cứ hợp đồng vay tiền giữa ông C, bà M và ông H vào ngày 06/7/2022 có nội dung: “Ông Võ Hồng C có cho bà Lê Thị M vay số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 06/7/2022 đến ngày 06/7/2023, lãi suất 1,5%/tháng"..., giấy nợ có chữ ký tên và viết tên của bà M và ông H.

      Tại phiên tòa phúc thẩm, bà M cho rằng vợ chồng ông C, bà D tính tiền lãi của số tiền vay 150.000.000 đồng và tiền hụi bà M còn nợ bà D 158.000.000 đồng, bà D cộng tiền vay, tiền hụi và tiền lãi thành số tiền là 400.000.000 đồng, yêu cầu bà và ông H ký vào hợp đồng vay tiền ghi ngày 06/7/2022, bà M có cung cấp giấy tờ chiết tính tiền ghi ngày 25/4/2022 ÂL để chứng minh số tiền nợ 400.000.000 đồng này. Tuy nhiên, ông C, bà D không thừa nhận và cho rằng chứng cứ bà M cung cấp là khoản tiền nợ giữa bà D với bà M đã tất toán xong, số tiền 200.000.000 đồng bên bà M trả cũng là trả cho khoản nợ này, còn khoản nợ 400.000.000 đồng của ông C theo hợp đồng vay tiền ghi ngày 06/7/2022 là khoản nợ vay khác. Bà D xác định đối với tiền nợ giữa bà M và bà D hai bên đã thanh toán xong nên không có khiếu nại hoặc tranh chấp sau này.

      Như vậy có căn cứ xác định ngày 06/7/2022 ông C có cho bà M và ông H vay số tiền 400.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền bà M và ông H đã ký nhận.

    • [3.3] Bà M cho rằng đã trả được số tiền là 200.000.000 đồng nên chỉ đồng ý trả số tiền còn nợ 200.000.000 đồng.

      Thấy rằng, trong quá trình giải quyết bà M trình bày số tiền 200.000.000 đồng được trả vào tháng 4 năm 2022 trong khi đó hợp đồng vay tiền mà bà M ký tên ghi ngày 06/7/2022 là sau thời điểm bà M trả tiền. Bên cạnh đó, tại phiên tòa phúc thẩm bà M cũng thừa nhận rằng từ khi ký vào hợp đồng vay này thì bà M chưa trả thêm bất kỳ khoản tiền nào cho vợ chồng ông C. Do đó, không có căn cứ xác định số tiền 200.000.000 đồng bà M trả cho khoản vay ngày 06/7/2022, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C buộc bà M và ông H liên đới trả số tiền vay còn nợ 400.000.000 đồng là có cơ sở.

    • [3.4] Đối với tiền lãi: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C tự nguyện giảm toàn bộ tiền lãi 50.000.000 đồng cho bà M, ông H, chỉ yêu cầu trả tiền gốc vay là 400.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông C, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, buộc bà M và ông H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông C số tiền vay còn nợ là 400.000.000 đồng theo quy định tại các Điều 288, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  4. Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ và đúng quy định pháp luật, tuy nhiên ông C đồng ý giảm tiền lãi cho bà M nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bà Lê Thị M, sửa bản án dân sự sơ thẩm.

  5. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nên chấp nhận.

  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị M và ông Trần Ngọc H phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho ông C, cụ thể: 400.000.000 đồng x 5% = 20.000.000 đồng.

  7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Lê Thị M không được chấp nhận nên bà Lê Thị M phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị M.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 126/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 229, 235, 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 288, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Hồng C đối với bà Lê Thị M và ông Trần Ngọc H về việc trả tiền vay.

    Buộc bà Lê Thị M và ông Trần Ngọc H có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Võ Hồng C số tiền vay là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).

    Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành án, thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Võ Hồng C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Võ Hồng C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.680.000 đồng (mười một triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008839 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành tỉnh Long An.

    Bà Lê Thị M và ông Trần Ngọc H phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 20.000.000 đồng.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Bà Lê Thị M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009082 ngày 12/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 507/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 507/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger