TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 507/2023/HSPT Ngày: 26/10/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Tiến |
| Các thẩm phán: | ông Nguyễn Văn Tào |
| Ông Phạm Văn Hợp |
- Thư ký phiên tòa: bà Dương Thị Tuyết Trinh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Quách Đức Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 450/2023/TLPT - HS ngày 02 tháng 10 năm 2023.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2023/HS-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Trung T, sinh ngày 23/10/2004 (thời điểm phạm tội 17 tuổi 04 tháng 12 ngày); giới tính: nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn D, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Không; cha: Lê Trung T1, sinh năm: 1984; mẹ: Huỳnh Thị Tường V, sinh năm: 1984; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 11 phút ngày 07/3/2022, Trần Xuân T2 rủ Nguyễn Duy T3, Đỗ Anh T4, Trần Hà Trọng T5 đi tìm đánh Văn Quang Vinh để giải quyết mâu thuẫn trước đó, thì cả nhóm đồng ý. Khi nhóm của T2 đi ngang qua Cửa hàng tạp hóa “Linh N” ở thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa thấy V1 và Lê Trung T đang ngồi trước cửa hàng T7. T2 đi vào hỏi V1 lý do vì sao đánh T2 thì V1 trả lời do T2 đánh em của V1. T2 dùng tay phải tát 01 cái vào mặt V1 thì bị V1 dùng dao bấm đem theo đâm 01 nhát vào bụng làm T2 bỏ chạy ra ngoài đường. Lúc này, V1 tay trái vẫn cầm dao giơ ra phía trước và chỉ vào nhóm của T2 nói “Ngon thì nhào vô”, nghe thấy vậy T3 liền lấy gậy ba khúc bằng sắt bỏ trong túi đeo trước ngực xông vào đánh nhau với V1. T3 cầm gậy 3 khúc đánh V1 thì V1 giơ tay trái lên đỡ nên bị trúng tay (chỉ bị xây xát, không bị thương tích), V1 cầm dao dí theo T3, T3 chạy thụt lùi và bị vấp ngã xuống đất làm rơi gậy ba khúc, V1 thấy vậy chạy đến đâm 01 nhát trúng ngực trái của T3. Sau đó, V1 bỏ chạy; còn T cầm mũ bảo hiểm đánh nhau với nhóm của T2 và bị nhóm của T2 dùng gậy ba khúc, khúc gỗ, tay chân đánh liên tiếp vào người. Sau đó nhóm của T2 ra chỗ lấy xe về thì T3 bị ngã xuống đất bất tỉnh, nhóm của T2 đã đưa T3 và T2 đi cấp cứu; trên đường đi T3 tử vong.
Đối với Văn Quang V2 sau khi bỏ chạy, đã nhờ Lê Kiến M cất giữ hộ điện thoại và dao bấm nhưng không nói cho M biết sự việc vừa xảy ra. Khi biết thông tin V2 đâm chết người, M đã vứt con dao bấm xuống con sông ở gần nhà. Khoảng 15 giờ ngày 07/3/2022, Văn Quang V2 đã đến Công an xã S đầu thú.
- Tại Bản kết luận giám định số 109 ngày 21/3/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh K đối với tổn thương của Nguyễn Duy T3:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Vết thương thấu ngực thủng gian sườn, thủng bao tim, thủng tim, thủng phổi.
- Nguyên nhân tử vong của Nguyễn Duy T3: Suy hô hấp – suy tuần hoàn do vết thương xuyên thấu ngực gây thủng tim, thủng phổi, phù hợp với tác nhân vật sắc nhọn. Chiều hướng từ ngoài vào trong, từ trái sang phải.
- Tại Bản kết luận giám định số 297 ngày 05/7/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh K đối với các tổn thương của Lê Trung T:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Tại thời điểm giám định các tổn thương không còn.
- Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Lê Trung T là: 0%.
- Tại Bản kết luận giám định số 298 ngày 06/7/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh K đối với tổn thương của Trần Xuân T2:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Vùng thượng vị có 01 vết sẹo kích thước nhỏ. Tỷ lệ thương tật 01%
- Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Trần Xuân T2 là: 01%.
Đối với thương tích của Trần Xuân T2, T2 có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên không có căn cứ xem xét, xử lý đối với Văn Quang V2.
Đối với Lê Kiến M, khi nhận giữ hộ dao và điện thoại do Văn Quang V2 gửi, M không biết trước đó V2 đã thực hiện hành vi phạm tội. Mặt khác, tại thời điểm nhận giữ hộ dao và điện thoại của V2, M mới 14 tuổi 08 tháng 17 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về các tội “Che giấu tội phạm”, “Không tố giác tội phạm” nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
* Về vật chứng: Đối với các đồ vật thu giữ đã trả lại cho chủ sở hữu thể hiện tại các bút lục: 274, 278, 282.
- 03 mẫu nghi máu; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đen hiệu “Nón Sơn”; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu trắng hiệu “Nón Sơn”; 01 đoạn gỗ dài 60cm.
Nội dung vụ án như trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2023/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: bị cáo Lê Trung T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Văn Quang V2 tội “Giết người”; các bị cáo Trần Xuân T2, Đỗ Anh T4, Trần Hà Trọng T5 tội “Gây rối trật tự công cộng”; Trách nhiệm dân sự, Xử lý vật chứng, Án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm: ngày 20/3/2023, bị cáo Lê Trung T (Bị cáo) kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa: bị cáo Lê Trung T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo; Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trung T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2023/HS-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Sau khi nghe: Bị cáo trình bày nội dung, căn cứ kháng cáo; quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án và tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận, nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ để kết luận: khoảng 11 giờ 15 phút ngày 6/7/2022, tại khu vực cửa hàng T7 "Linh N" thuộc thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa, do bị Trần Văn T6 dùng tay tát vào mặt, Nguyễn Duy T3 dùng gậy ba khúc bằng sắt đánh nên Văn Quang V2 đã dùng dao bấm đâm 01 nhát vào bụng của Xuân T2 gây tổn hại sức khỏe 1%; đâm 01 nhát vào ngực trái của Nguyễn Duy T3, T3 bị thương và chết trên đường đi cấp cứu. Trần Xuân T2, Nguyễn Duy T3, Đỗ Anh T4, Trần Hà Trọng T5 đã có hành vi dùng gậy ba khúc, khúc gỗ, tay chân đánh Văn Quang Vinh và Lê Trung T nên V2 đã dùng dao, T sử dụng mũ bảo hiểm đánh lại nhóm của T2, gây mất trật tự công cộng. Với hành vi và hậu quả như trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2023/HS-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên bố bị cáo Lê Trung T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Lê Trung T thì thấy: bị cáo T đã tham gia đánh nhau với nhóm của bị cáo Nguyễn Duy T3, hậu quả là Văn Quang V2 đâm Nguyễn Duy T3 chết. Hành vi của bị cáo bị truy tố và xét xử về tội Gây rối trật tự công cộng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Khi quyết định hình phạt đối với Bị cáo, Bản án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khi phạm tội Bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng các Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo 01 năm 6 tháng tù là mức hình phạt dưới khung của tội mà Bị cáo bị truy tố và xét xử là không nặng và không cho Bị cáo được hưởng án treo là tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả mà Bị cáo đã gây ra. Sau khi xét xử sơ thẩm, Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của Bị cáo không có căn cứ để chấp nhận.
[4]. Các quyết định của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Văn Quang V2 tội “Giết người”; các bị cáo Trần Xuân T2, Đỗ Anh T4, Trần Hà Trọng T5 tội “Gây rối trật tự công cộng” và các Quyết định về: Trách nhiệm dân sự, Xử lý vật chứng, Án phí không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và được thi hành theo quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2023/HS-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
[5]. Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lê Trung T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Từ những nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trung T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2023/HS-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Lê Trung T 01 (năm) 06 ( sáu ) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Án phí phúc thẩm:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Trung T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Văn Quang V2 tội “Giết người”; các bị cáo Trần Xuân T2, Đỗ Anh T4, Trần Hà Trọng T5 tội “Gây rối trật tự công cộng” và các Quyết định về: Trách nhiệm dân sự, Xử lý vật chứng, Án phí và Quy định về thi hành án không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và được thi hành theo quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2023/HS-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Tiến |
Bản án số 507/2023/HSPT ngày 26/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 507/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trung T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2023/HS-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. - Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Lê Trung T 01 (năm) 06 ( sáu ) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
