|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 506/2024/DS-ST Ngày 29-7-2024 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- 2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 487/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 186/2024/QĐST–DS ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (có đơn xin vắng mặt)
Trụ sở: 266-268 N, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền là ông Lã Ngọc M, sinh năm 1970.
Bị đơn: Bà Đặng Bích H, sinh năm: 1987 (vắng mặt)
Thường trú: B10 ấp M, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 08.9.2023, bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được, đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 08/01/2017, bà Đặng Bích H có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Đặng Bích H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số 486265-1736 với hạn mức sử dụng là 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Đặng Bích H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 476.698.885 (Bốn trăm bảy mươi sáu triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn tám trăm tám mươi lăm) đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Đặng Bích H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 474.270.727 (Bốn trăm bảy mươi bốn triệu hai trăm bảy mươi nghìn bảy trăm hai mươi bảy) đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Đặng Bích H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Đặng Bích H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/04/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 35.028.209 (Ba mươi lăm triệu không trăm hai mươi tám nghìn hai trăm lẻ chín) đồng làm nợ gốc và tính lãi hàng tháng trên dư nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà H, yêu cầu bà H có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để bà H trả nợ, tuy nhiên bà H vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại hợp đồng đã ký.
Nay Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bà Đặng Bích H thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 29/7/2024 là 73.780.196 (Bảy mươi ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn một trăm chín mươi sáu) đồng, trong đó nợ gốc 35.028.209 (Ba mươi lăm triệu không trăm hai mươi tám nghìn hai trăm lẻ chín) đồng và lãi quá hạn 38.751.987 (Ba mươi tám triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn chín trăm tám mươi bảy) đồng, thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 30/7/2024 theo lãi suất quy định tại Hợp đồng cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng bà Đặng Bích H không đến Tòa nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Về phía bị đơn bà Đặng Bích H, Tòa án đã tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn bà H vẫn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn trình bày ý kiến tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo trình tự thủ tục pháp luật quy định đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- 2 -
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP S với bà Đặng Bích H là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại B ấp M, xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định nói trên theo quy định của pháp luật tố tụng nhưng bị đơn Đặng Bích H không đến, phiên tòa phải hoãn và Quyết định hoãn phiên tòa cũng được tống đạt hợp lệ cho bà H nhưng bà H vẫn không có mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Theo lời trình bày của đại diện nguyên đơn thì vào ngày 08/01/2017, bà Đặng Bích H do có nhu cầu tiêu dùng cá nhân nên có ký với Ngân hàng TMCP S giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 486265-1736 với hạn mức sử dụng là 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng. Bà Đặng Bích H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 476.698.885 (Bốn trăm bảy mươi sáu triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn tám trăm tám mươi lăm) đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 474.270.727 (Bốn trăm bảy mươi bốn triệu hai trăm bảy mươi nghìn bảy trăm hai mươi bảy) đồng. Do bà H vi phạm cam kết không thực hiện việc thanh toán như hợp đồng đã thỏa thuận nên phát sinh tranh chấp.
Trong quá trình tố tụng, do bị đơn Đặng Bích H không đến Tòa để cung cấp lời khai, tài liệu chứng cứ để chứng minh và tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu của nguyên đơn dựa trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Hội đồng xét xử xét thấy, việc bị đơn Đặng Bích H không thanh toán tiền cho Ngân hàng như đã thỏa thuận trong hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Đặng Bích H trả số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 29/7/2024 là 73.780.196 (Bảy mươi ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn một trăm chín mươi sáu) đồng, trong đó nợ gốc 35.028.209 (Ba mươi lăm triệu không trăm hai mươi tám nghìn hai trăm lẻ chín) đồng và lãi quá hạn 38.751.987 (Ba mươi tám triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn chín trăm tám mươi bảy) đồng thanh toán một lần, thi hành khi án có hiệu lực pháp luật và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 30/7/2024 theo lãi suất quy định tại Hợp đồng cho đến khi thanh toán hết nợ là phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Bị đơn Đặng Bích H vắng mặt, không có lời khai, không có tài liệu chứng cứ để chứng minh nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
- 3 -
Về án phí: Bị đơn Đặng Bích H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 91 Luật tổ chức tín dụng;
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S:
Buộc bà Đặng Bích H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 29/7/2024 là 73.780.196 (Bảy mươi ba triệu bảy trăm tám mươi nghìn một trăm chín mươi sáu) đồng và tiền lãi phát sinh tiếp tục được tính từ ngày 30/7/2024 theo mức lãi suất được thỏa thuận theo hợp đồng cho đến khi bà Đặng Bích H trả xong khoản nợ cho Ngân hàng. Thi hành khi án có hiệu lực pháp luật.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bà Đặng Bích H chịu án phí DSST là 3.689.010 (Ba triệu sáu trăm tám mươi chín nghìn không trăm mười) đồng. Thi hành khi án có hiệu lực pháp luật tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 1.447.195 (Một triệu bốn trăm bốn mươi bảy nghìn một trăm chín mươi lăm) đồng cho Ngân hàng TMCP S theo biên lai thu tiền số 0017082 ngày 09.10.2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Đại diện nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hồng Hoa |
- 4 -
- 5 -
Bản án số 506/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 506/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hip dong tin dung
