Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 506/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15 - 08 - 2024

“V/v tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Sức
  2. Ông Võ Thái Quân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 433/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 07 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 393/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn:Lê Thị Phước B, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ A ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có mặt);

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1970; địa chỉ: tổ A ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn bà Lê Thị Phước B trình bày:

Lê Thị Phước B với ông Nguyễn Văn P hôn nhân do mai mối và đi đến sống chung như vợ chồng vào năm 1990, có tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, bất đồng về kinh tế trong gia đình, ông P thường xuyên sử dụng rượu bia, dùng lời lẽ hăm doạ vũ lực đối với bà B, vợ chồng đã không còn sống chung từ năm 2021 cho đến nay, gia đình hai bên đã hàn gắn nhưng không có kết quả, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng. Vì vậy, bà B yêu cầu được ly hôn với ông P.

  • - Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 02/01/1992 (đã trưởng thành) và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 01/04/1997 (đã trưởng thành);
  • - Về tài sản chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn P trình bày: Ông P với bà B đi đến hôn nhân vào năm 1990, hôn nhân do mai mối có tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn. Quá trình sống chung vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, nên đã ly thân từ 02 năm đến 3 năm, không ăn uống sinh hoạt chung. Nay theo yêu cầu ly hôn của bà B ông P không đồng ý, với lý do phải có sự đồng ý của 02 đứa con chung.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ quan điểm như đã trình bày, không giao nộp thêm tài liệu chứng cứ.

Bị đơn ông Nguyễn Văn P đồng ý ly hôn với bà B.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định pháp luật.

  • - Đối với nguyên đơn: Bà Lê Thị Phước B từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Đối với bị đơn: Ông Nguyễn Văn P từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Không công nhận bà Lê Thị Phước B với ông Nguyễn Văn P là vợ chồng; về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 02/01/1992 (đã trưởng thành) và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 01/04/1997 (đã trưởng thành).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Bà Lê Thị Phước B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn P nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Văn P với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Lê Thị Phước B với ông Nguyễn Văn P là tự nguyện sống chung như vợ chồng năm 1990, có tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, bất đồng về kinh tế trong gia đình, ông P thường xuyên sử dụng rượu bia, dùng lời lẽ hăm doạ dùng vũ lực đối với và B, không tôn trọng lẫn nhau nên giữa bà B và ông P không còn sống chung từ năm 2021 cho đến nay. Vì vậy, bà B yêu cầu được ly hôn ông P, tại phiên toà ông P thống nhất ly hôn với bà B. Do hôn nhân của ông, bà không có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nên được xem là hôn nhân không hợp pháp. Nên, căn cứ vào Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận bà B và ông P là vợ chồng là phù hợp.

Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 02/01/1992 (đã trưởng thành) và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 01/04/1997 (đã trưởng thành).

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu xem xét giải quyết.

[3] Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của bà Lê Thị Phước B được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không công nhận bà Lê Thị Phước B với ông Nguyễn Văn P là vợ chồng.
  2. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhựt T, sinh ngày 02/01/1992 (đã trưởng thành) và Nguyễn Bảo N, sinh ngày 01/04/1997 (đã trưởng thành), nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: không có, không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Lê Thị Phước B phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007097 ngày 10/09/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HSVA.

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 506/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 506/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger