|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 505/2024/DS-ST
Ngày 30-07-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Hoài
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phan Thị Xuân Hương
- Ông Nguyễn Văn Vân
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 475/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 358/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á; địa chỉ trụ sở: số D đường N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; địa chỉ: số B đường N, Tổ B, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Nguyễn Vũ D; địa chỉ: Lầu H, Tòa nhà A, số D đường C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 17 tháng 8 năm 2021, nguyên đơn và bị đơn ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân, theo đó nguyên đơn cấp tín dụng cho bị đơn hai thẻ tín dụng: thẻ tín dụng số 3567950000814009 có hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng, thẻ tín dụng số 4791392552073773 có hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn nên đến ngày 22 tháng 02 năm 2022, nguyên đơn đã chuyển toàn bộ khoản vay của bị đơn sang nợ quá hạn.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày 06 tháng 04 năm 2023 là 30.746.117 đồng, trong đó nợ gốc là 21.958.522 đồng, lãi quá hạn là 8.787.595 đồng, đồng thời bị đơn vẫn phải chịu tiền lãi phát sinh theo lãi suất và cách tính lãi mà hai bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân kể từ ngày 07 tháng 04 năm 2023 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bị đơn trả khoản nợ trên, không yêu cầu chồng của bị đơn cùng chịu trách nhiệm trả nợ với bị đơn.
Ý kiến của bị đơn: Bị đơn vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu trình bày tại bản tự khai gửi đến Tòa án ngày 30 tháng 07 năm 2024; cụ thể: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả toàn bộ nợ gốc, tiền lãi tính đến ngày 30 tháng 07 năm 2024 là 41.998.439 đồng, trong đó: vốn gốc là 21.958.522 đồng, lãi quá hạn là 20.039.917 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, và tiền lãi quá hạn kể từ ngày 31 tháng 07 năm 2024 đến khi bị đơn trả hết khoản nợ theo thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 17 tháng 08 năm 2021.
Bị đơn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự:
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định, tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
- Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn không có yêu cầu phản tố và vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về yêu cầu của các đương sự:
- Xét yêu cầu của nguyên đơn:
- Đối với phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 30 tháng 07 năm 2024 là 41.998.439 đồng, trong đó: vốn gốc là 21.958.522 đồng, lãi quá hạn là 20.039.917 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật:
Căn cứ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 17 tháng 08 năm 2021, bản tự khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định nguyên đơn có cấp cho bị đơn hai thẻ tín dụng số 3567950000814009 và số 4791392552073777 cùng với hạn mức 20.000.000 đồng.
Căn cứ Bảng tính chi tiết quá trình sử dụng thẻ tín dụng ngày 30 tháng 07 năm 2024 do nguyên đơn cung cấp thì tính đến ngày 30 tháng 07 năm 2024, bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền tổng cộng là 41.998.439 đồng, trong đó: vốn gốc là 21.958.522 đồng, lãi quá hạn là 20.039.917 đồng. Ngày bị đơn trả nợ cuối cùng là ngày 11 tháng 12 năm 2022, như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, điều đó chứng tỏ bị đơn từ bỏ quyền được pháp luật bảo vệ.
Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là hợp pháp nên chấp nhận, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền là 41.998.439 đồng, trong đó: vốn gốc là 21.958.522 đồng, lãi quá hạn là 20.039.917 đồng đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng tính trên số dư nợ gốc kể từ ngày 31 tháng 07 năm 2024 cho đến khi bị đơn thanh toán xong khoản nợ trên:
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là hợp pháp nên chấp nhận, buộc bị đơn phải tiếp tục thanh toán lãi quá hạn đối với khoản nợ gốc kể từ sau khi tuyên án sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân.
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.099.922 đồng.
Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 6, 7, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Buộc bà Nguyễn Thị H phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền nợ phát sinh từ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 17 tháng 08 năm 2021 tính đến ngày 30 tháng 07 năm 2024 là 41.998.439 đồng (Bốn mươi mốt triệu chín trăm chín mươi tám nghìn bốn trăm ba mươi chín đồng), trong đó: vốn gốc là 21.958.522 đồng, lãi quá hạn là 20.039.917 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Nguyễn Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần Á thì lãi suất bà Nguyễn Thị H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần Á.
Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.099.922 đồng (Hai triệu không trăm chín mươi chín nghìn chín trăm hai mươi hai đồng).
Hoàn lại số tiền tạm tạm ứng án phí cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á là 768.653 đồng (Bảy trăm sáu mươi tám nghìn sáu trăm năm mươi ba đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0018276 ngày 13 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoài |
Bản án số 505/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 505/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
