Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 505/2024/DS-PT

Ngày: 12-12-2024

“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất,

yêu cầu di dời cột điện”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Các Thẩm phán: Ông Đinh Tiền Phương.

Ông Đặng Văn Những.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.

Vào ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 510/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời cột điện”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 382/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 568/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1956;

    Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm H, sinh năm 1959. Địa chỉ: Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An (Theo văn bản ủy quyền ngày 17/01/2022).

  2. Bị đơn: Công ty Cổ phần X.

    Địa chỉ trụ sở: 1.15-1.16, tầng trệt + lửng, Tòa nhà R, số B, N, Phường A, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Địa chỉ chi nhánh: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn B - Chức vụ Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiểu L, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số B, ô F, khu B, thị trấn H, Đ, Long An (Theo văn bản ủy quyền ngày 27/3/2024).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Ngọc T, sinh năm 1958. Địa chỉ: Ấp R, xã M, Đ, Long An (bà T vắng mặt).

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thanh V.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/10/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 08/7/2024 ông Nguyễn Thanh V và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Nguyễn Thanh V là chủ sử dụng quyền sử dụng thửa đất số 403, tờ bản đồ số 22, xã M, Đ, Long An. Năm 2014, ông V có chuyển nhượng 02 mét ngang đất một phần thửa đất số 403 nêu trên cho Công ty X để mở rộng lối đi vào công ty. Năm 2022, Công ty X tự ý cắm 02 trụ điện trung thế lấn sang phần còn lại của thửa đất số 403 của ông V. Nhiều lần ông V yêu cầu Công ty X phải trả lại phần đất lấn chiếm ngang 0,4 mét x dài khoảng 45 mét (diện tích 18m²) và di dời 02 trụ điện trung thế nêu trên.

Đến ngày 08/7/2024, ông V xin thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện: chỉ yêu cầu tháo dỡ, di dời 02 trụ điện trung thế và lưới điện (tính từ mí đường lộ nhựa M) ra khỏi phần đất thuộc thửa 403, tờ bản đồ số 22, M Bắc của ông.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Ngày 23/6/2014, ông Nguyễn Văn B (Giám đốc Công ty X) có nhận chuyển nhượng phần đất có diện tích 112m² (ngang 02 mét, dài 56m) thuộc thửa đất số 403 tờ bản đồ số 22 tại xã M thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh V và vợ là bà Trương Ngọc T. Số tiền nhận chuyển nhượng là 210 triệu đồng, ông B đã thanh toán đủ và vợ chồng ông Nguyễn Thanh V, Trương Ngọc T đã bàn giao diện tích đất 112m² để Công ty X cắm các trụ điện trung thế từ mí đường lộ nhựa Mỹ Hạnh dọc theo đường giao thông có sẵn để cung cấp điện cho nhà máy thuộc quyền sở hữu của Công ty X.

Việc Công ty X thi công các trụ điện, lưới điện trong đó có 02 trụ điện đang phát sinh tranh chấp là cắm từ năm 2014, trên phần đất được ông V, bà T chuyển nhượng và sử dụng ổn định cho đến nay. Trong quá trình sử dụng điện không ai tranh chấp hay có ý kiến gì. Ông V và bà T sống liền kề vị trí đất, khi Công ty kết hợp với bên điện lực thi công, kéo dây điện vào vận hành nhà máy, ông V, bà T cũng không có ý kiến gì, hoàn toàn đồng thuận với việc thi công.

Thực tế, trên diện tích 112m² nhận chuyển nhượng, Ông B và Công ty X không yêu cầu tách thửa hay bàn giao toàn bộ diện tích đất này để sử dụng, thực tế chỉ có trồng 02 trụ điện đi vào nhà xưởng. Diện tích ngoài 02 cây trụ điện vẫn do ông V, bà T quản lý, sử dụng.

Nay ông V, bà T khởi kiện yêu cầu di dời, tháo dỡ 02 cây trụ điện trung thế, trên phần diện tích đất còn lại tại thửa 403 là không có cơ sở. Công ty X khẳng định 02 cây trụ điện được lắp đặt từ năm 2014 và từ đó đến nay không có di dời lần nào.

Tòa án có tiến hành hòa giải nhưng các bên không thống nhất ý kiến.

Bà Trương Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên người đại diện của nguyên đơn trình bày: bà T là vợ hợp pháp của ông V nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án theo thủ tục chung, ý kiến của ông V cũng đồng thời là ý kiến của bà T.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 382/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã căn cứ các Điều 26, 35, 39, 72, 92, 147, 157, 165, 200, 201, 222, 227, 228, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 175, 176 Bộ Luật dân sự; Điều 11, Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh V về việc yêu cầu Công ty Cổ phần X phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất là 02 trụ điện trung thế và lưới điện 03 pha 22 Kv cắm trên một phần thửa đất số 403, tờ bản đồ số 22, xã M, Đ, Long An.
  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh V về việc buộc Công ty Cổ phần X phải trả lại phần đất có diện tích ngang 0,4 mét x dài 45 mét (khoảng 18m²) một phần thửa đất số 403, tờ bản đồ số 22, xã M, Đ, Long An.
  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Thanh V phải chịu số tiền là 3.000.000 đồng, số tiền trên ông V đã tạm nộp và chi phí xong.
  4. Về án phí:

    Công ty Cổ phần X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Nguyễn Thanh V thuộc đối tượng người cao tuổi, được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.

Ngày 24/9/2024, ông Nguyễn Thanh V kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Ông Nguyễn Thanh V trình bày: Trong quá trình Công ty X đặt các trụ điện hoàn toàn không có sự chứng kiến của ông, đối với trụ điện đầu tiên phía đường lộ thì ông đồng ý, còn trụ điện thứ 2 và thứ 3 thì Công ty X đặt lấn qua đất của ông 1,3m nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông, buộc Công ty X phải di dời hai trụ điện trả lại đất cho ông.

Ông H trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của ông V.

Bà Trương Ngọc T trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của ông V. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông V, buộc Công ty X phải di dời hai trụ điện trả lại đất cho bà và ông V.

Ông Nguyễn Tiểu L trình bày: Các trụ điện Công ty X đặt từ năm 2014, không có di dời. Khi đặt thì phía ông V biết không có khiếu nại hay tranh chấp gì. Việc lắp đặt phải do Công ty Đ thực hiện, không phải Công ty X tự lắp đặt, nên việc ông V cho rằng Công ty X di dời các cột điện là không có căn cứ. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông V, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của ông ông Nguyễn Thanh V đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thanh V nhận thấy:

Quyền sử dụng đất thửa số 403, tờ bản đồ số 22, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, hiện do ông Nguyễn Thanh V đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 26/3/2014, ông Nguyễn Thanh V lập giấy tay chuyển nhượng một phần thửa 403 nêu trên ngang 02 mét x dài 56 mét, diện tích 112 m² cho ông Nguyễn Văn B (Giám đốc Công ty cổ phần X).

Sau khi nhận chuyển nhượng đất, Công ty cổ phần X làm chủ đầu tư, đã được đăng ký đầu tư công trình được dây diện trung thế 03 pha, 22 kV tại cơ quan có thẩm quyền; thi công hoàn thành và đưa vào sử dụng từ năm 2014, sau đó đề nghị tăng công suất trạm biến áp vào năm 2016 và tiếp tục quản lý, vận hành cho đến nay.

Theo Mảnh trích đo bản vẽ phần đất tranh chấp do Công ty TNHH Đ1 lập, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai phê duyệt và bản phụ lục trích đo bản vẽ thấy rằng 02 trụ điện trung thế của đường dây điện 22 kv do Công ty cổ phần X làm chủ đầu tư, quản lý vẫn nằm trong phạm vi phần đất mà ông Nguyễn Văn B (Giám đốc Công ty X) nhận chuyển nhượng từ ông V vào năm 2014.

Từ những căn cứ nêu trên, kháng cáo của ông Nguyễn Thanh V không có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thanh V thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:

Ông Nguyễn Thanh V khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần X phải di dời các trụ điện.

Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông V kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.

Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.

[3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Thanh V, thấy rằng:

[3.1] Ông Nguyễn Thanh V yêu cầu Công ty Cổ phần X di dời trụ điện trung thế trên thửa đất 403, thấy rằng:

Quyền sử dụng đất thửa số 403, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, hiện ông Nguyễn Thanh V đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 26/3/2014, ông Nguyễn Thanh V lập giấy tay chuyển nhượng một phần thửa đất 403 nêu trên có diện tích ngang 02 mét x dài 56 mét có diện tích 112 m² cho ông Nguyễn Văn B (Giám đốc Công ty Cổ phần X).

Sau khi nhận chuyển nhượng đất, Công ty Cổ phần X làm chủ đầu tư, đã được đăng ký đầu tư công trình được dây diện trung thế 03 pha, 22 kV tại cơ quan có thẩm quyền; thi công hoàn thành và đưa vào sử dụng từ năm 2014, sau đó đề nghị tăng công suất trạm biến áp vào năm 2016 và tiếp tục quản lý, vận hành cho đến nay.

Theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 454/2022 do Công ty TNHH Đ1 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ ký duyệt ngày 18/10/2022 và M trích đo năm 2024 (thể hiện các trụ điện), thấy rằng 02 trụ điện trung thế của đường dây điện 22 kV do Công ty cổ phần X làm chủ đầu tư, quản lý vẫn nằm trong phạm vi phần đất chiều ngang 2m mà ông Nguyễn Văn B (Giám đốc Công ty X) nhận chuyển nhượng từ ông V vào năm 2014.

Quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị Tòa án tiến hành tổ chức đo đạc lại phấn đất chuyển nhượng, xác định lại vị trí các trụ điện trung thế đang phát sinh tranh chấp. Tòa án đã ấn định thời hạn để nguyên đơn làm đơn, lựa chọn tổ chức để đo đạc, nộp bổ sung chi phí đo đạc, thẩm định tài sản tranh chấp nhưng nguyên đơn không thực hiện nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 454/2022 do Công ty TNHH Đ1 được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ ký duyệt ngày 18/10/2022 và M trích đo năm 2024 (thể hiện các trụ điện) làm căn cứ giải quyết là phù hợp.

[3.2] Do vậy, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ thấy rằng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty X phải tháo dỡ, di dời 02 trụ điện trung thế và lưới điện tại phần còn lại của thửa đất số 403 là không có căn cứ, không phù hợp với Điều 158, Điều 159, Điều 174 của Bộ luật dân sự nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận là phù hợp.

[4] Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ và đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông ông Nguyễn Thanh V.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nên chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Nguyễn Thanh V không được chấp nhận nên ông Nguyễn Thanh V phải chịu án phí theo quy định. Tuy nhiên ông V là người cao tuổi nên được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thanh V.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 382/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 72, 92, 147, 157, 165, 200, 201, 222, 227, 228, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 175, 176 Bộ Luật dân sự; Điều 11, Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh V về việc yêu cầu Công ty Cổ phần X phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất là 02 trụ điện trung thế và lưới điện 03 pha 22 Kv cắm trên một phần thửa đất số 403, tờ bản đồ số 22, xã M, Đ, Long An.
  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh V về việc buộc Công ty Cổ phần X phải trả lại phần đất có diện tích ngang 0,4 mét x dài 45 mét (khoảng 18m²) một phần thửa đất số 403, tờ bản đồ số 22, xã M, Đ, Long An.
  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Thanh V phải chịu số tiền là 3.000.000 đồng, số tiền trên ông V đã tạm nộp và chi phí xong.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Công ty Cổ phần X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

    Miễn cho ông Nguyễn Thanh V án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho ông Nguyễn Thanh V án phí dân sự phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 505/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời cột điện

  • Số bản án: 505/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời cột điện
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời cột điện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger