|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 505/2024/HS-PT Ngày: 14-6-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh
Các thẩm phán: Ông Hoàng Nhật Tân
Ông Trần Đức Hiếu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Dương Thị Thơm -
Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 347/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Trương Thị L và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2024/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội.
* Các bị cáo có kháng cáo:
- TRƯƠNG THỊ L, sinh ngày 06/4/19XX tại T B; ĐKHKTT và nơi cư trú: No X - LK35 khu đất dịch vụ LK 20ab, phường D N, quận H Đ, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Thế N và bà Trương Thị S; có chồng Vũ Văn H và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/9/2023 đến ngày 09/11/2023, hiện tại ngoại có mặt.
- NGUYỄN VĂN L1, sinh ngày 07/8/19XX tại H D; ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn K Đ, xã L L, thị xã K M, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Trần Thị L (đều đã chết); có vợ Nguyễn Thị P và 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/08/2013, Công an huyện Kinh Môn xử phạt 3.000.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Bị cáo bắt tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến ngày 15/12/2023, hiện tại ngoại có mặt.
- NGUYỄN QUỐC V, sinh ngày 21/02/19XX tại T N; ĐKHKTT: Xóm N T, xã Y L, huyện Đ T, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: Số X ngách Y T K, phường T H, quận C G, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T; có vợ Vũ Thị Thuỳ D và 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- Bản án số: 43/2011/HSST ngày 01/08/2011, TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Bản án số: 68/2014/HSST ngày 25/04/2014, TAND quận Thanh Xuân, TP Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- NGUYỄN PHƯƠNG N, sinh Ngày 01/7/19XX tại P T; ĐKHKTT: Khu Đ H, thị trấn C K, huyện C K, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Phòng X, toà B, chung cư H T, phường K H, quận H Đ, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình P (đã chết) và bà Vũ Thị M; có vợ Nguyễn Thị Vân A và 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số: 15/2005/HSST ngày 25/03/2005, TAND huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xử phạt 24 tháng tù, cho hưởng án treo, hạn thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
Ngoài ra còn có 04 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị:
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 35' ngày 07/09/2023, Đội CSHS phối hợp cùng Công an phường Nghĩa Tân kiểm tra hành chính đối với Trương Thị L (sinh năm: 19XX; No 04 - LK35 khu đất dịch vụ LK 20ab, phường D N, quận H Đ, Hà Nội) tại quán nước ngã tư Nguyễn Thị Duệ - Nguyễn Xuân Nham - Ngõ 219 Trung Kính, phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Quá trình kiểm tra phát hiện trong máy điện thoại của Trương Thị L có tin nhắn mua bán số lô đề. Trương Thị L thừa nhận hành vi mua bán số lô đề cho khách, sau đó L chuyển cho chồng là Vũ Văn H (sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: xóm X, xã X T, huyện X T, tỉnh Nam Định) để bán lại số lô đề cho người khác. Cơ quan công công an tiến hành mời Vũ Văn H về trụ sở để làm rõ.
Cơ quan công an đã tiến hành thu giữ của:
- Trương Thị L 01 điện thoại di động Iphone 12 promax và số tiền 21.745.000 đồng (gồm số tiền bán lô đề cho khách ngày 07/09/2023 là 12.015.000 đồng và số tiền thu lợi từ việc bán số lô đề cho L1 là 9.730.000 đồng).
- Vũ Văn H 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A04, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A23, số tiền 5.771.500 đồng (đây là số tiền H thu lợi từ việc mua bán số lô đề ngày 07/09/2023).
Tại cơ quan công an, Trương Thị L và Vũ Văn H đã đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như sau: Hàng ngày, L bán nước tại khu vực vỉa hè ngã tư đường Nguyễn Thị Duệ - Nguyễn Xuân Nham - Ngõ 219 Trung Kính, phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Từ đầu tháng 07/2023, hai vợ chồng L và H nảy sinh ý định bán số lô đề cho khách để lấy tiền tiêu sài cá nhân. L là người mua bán số lô đề với khách dưới hình thức trực tiếp hoặc nhắn tin qua tin nhắn mạng zalo. Sau khi mua bán số lô đề với khách thì L sẽ chuyển toàn bộ số lô đề cho H qua mạng Telegram để bán lại số lô đề cho Nguyễn Xuân Hùng và một số người khác.
Cơ quan công an xác định ngày 07/09/2023, Trương Thị L bán số lô, đề cho 12 người dưới hình thức nhắn tin đến zalo của L như sau:
- Bán cho Trần Đức T số lô 37 x 3.000 điểm = 66.000.000 đồng. T đã thanh toán số tiền trên với L và thua số tiền trên. Tổng số tiền Trần Đức T sử dụng để đánh bạc là 66.000.000 đồng.
- Bán cho Nguyễn Phương N số lô 59.95 x 100 điểm, đề 34.44 x 50n. Nam đã thanh toán tiền mua số lô đề là 4.600.000 đồng. N trúng 16.000.000 đồng nhưng chưa được L thanh toán. Tổng số tiền N sử dụng để đánh bạc là 20.600.000 đồng.
- Trương Thị L còn bán số lô, đề cho Đỗ Duy T (Sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: xóm X xã Đ X, N T, Nam Định; zalo tên Ông Thức T) với tổng số tiền lô, đề là 650.000 đồng; bán cho Nguyễn Văn M (Sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: D T, H D, T T, Thái Bình; zalo tên Minh Nguyễn V) tổng số tiền lô, đề là 115.000 đồng; Bán cho Đào Văn C (Sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: Y K, xã V H, K C, Hưng Yên; zalo tên Đào Văn C) tổng số tiền lô, đề là 740.000 đồng; bán cho Nguyễn Việt D (Sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: Khu X tổ Y T S, TP U B, Quảng Ninh; zalo tên Dũng H; SĐT 096916XXXX) số lô đề là 3.630.000 đồng; Bán cho Nguyễn Văn H (Sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: TDP X H, TT X M, C M, Hà Nội; zalo số 096970XXXX) số tiền đề là 250.000 đồng; Bán cho Đặng Xuân K (Sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: TDP T4, phường C N 2, B T L, Hà Nội) số tiền số lô đề là 1.500.000 đồng; bán cho Bùi Đắc N (Sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: Xóm X xã X P, X T, Nam Định) số tiền lô đề là 1.650.000 đồng; bán cho Trần Hữu D (Sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: Số X ngõ Y đường T T O, xã T T O, T T, Hà Nội) số tiền lô, đề là 680.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 07/09/2023, L còn bán số lô đề cho khách qua zalo tên "Thành Nguyễn", "Thanh Mai" và zalo tên "Phu quy Nguyen". Quá trình xác minh chưa xác định được lai lịch nhân thân người dùng zalo "Thành Nguyễn", "Thanh Mai". Đối với zalo "Phu quy Nguyen", Cơ quan điều tra đã triệu tập Nguyễn Phú Q (Sinh năm: 19XX; Nơi cư trú: Căn X, chung cư SME, phường Q T, H Đ, Hà Nội) để làm rõ hành vi đánh bạc nhưng hiện Q không có mặt tại địa phương, hiện không xác định được Q đang ở đâu. Bản thân Q chưa có tiền án, tiền sự, số tiền mua số lô đề dưới 5.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền bảng lô đề của L ngày 07/09/2023 là 82.622.500 đồng - thực thu của khách sau triết khấu là 82.015.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ trong tháng 7, 8/2023, L bán số lô đề cho Nguyễn Văn L1 và Nguyễn Quốc V rồi bán lại toàn bộ số lô đề trên cho 01 nam thanh niên tên Q với giá 21.700 đồng/1 điểm lô, tiền đề L tỉnh với L1, V theo tỷ lệ 1.000.000 đồng thì thu 900.000 đồng rồi bán lại cho Quang với giá 720.000 đồng, cụ thể như sau:
- Ngày 09/08/2023, L1 mua 32 số lô, mỗi số lô 150 điểm. Tổng cộng L1 mua 4.800 điểm lô x 22.300 đồng/điểm = 107.000.000 đồng. L1 trúng 9 số lô = 1.350 x 800.000 đồng/điểm = 108.000.000 đồng. Như vậy, L1 thắng số tiền là: 1.000.000 đồng. L bán lại: 4.800 điểm x 21.7 = 104.160.000 đồng, thu lợi 2.840.000 đồng.
- Ngày 10/8/2023, L1 mua 32 số lô, mỗi số lô 150 điểm. Tổng cộng L1 mua 4.800 điểm lô x 22.300 đồng/điểm = 107.000.000 đồng. L1 trúng 1.200 điểm lô = 96.000.000 đồng. Như vậy, L1 thua số tiền là: 11.000.000 đồng. L bán lại: 4.800 điểm x 21.7 = 104.160.000 đồng, thu lợi 2.840.000 đồng.
- Ngày 14/08/2023, L1 mua số lô 89 x 200 điểm = 4.500.000 đồng, L1 trúng được 16.000.000 đồng. Như vậy, L1 thắng số tiền là 11.500.000 đồng. L bán lại: 200 điểm * 21.7 = 4.340.000 đồng, thu lợi 160.000 đồng.
- Ngày 15/08/2023, L1 mua số lô 54 x 200 điểm, 44 x 100 điểm = 6.750.000 đồng, L1 trúng 16.000.000 đồng. Như vậy, L1 thắng số tiền: 9.250.000 đồng. L bán lại: 300 điểm x 21.7 = 6.510.000 đồng, thu lợi 240.000 đồng.
- Ngày 16/08/2023 L1 mua số lô 50, 42 mỗi con 100 điểm = 4.500.000 đồng và L1 thua. L bán lại: 200 điểm x 21.7 = 4.340.000 đồng, thu lợi 160.000 đồng.
- Ngày 17/08/2023 L1 mua số lô 69 x 200 điểm = 4.500.000 đồng và L1 thua. L bán lại: 200 điểm x 21.7 = 4.340.000 đồng, thu lợi 160.000 đồng.
- Ngày 18/08/2023, L1 mua số lô 22 x 300 điểm = 6.690.000 đồng và L1 thua. L bán lại: 300 điểm x 21.7 = 6.510.000 đồng, thu lợi 180.000 đồng.
- Ngày 20/8/2023, L1 mua số lô 66 x 1.000 điểm = 22.300.000 đồng và L1 thua. L bán lại: 1.000 điểm x 21.7 = 21.700.000 đồng, thu lợi 600.000 đồng.
- Ngày 24/008/2023, L1 mua số lô 22 x 100 điểm = 2.250.000 đồng và L1 thua. L bán lại 100 điểm x 21.7 = 2.170.000 đồng, thu lợi 80.000 đồng.
- Ngày 02/09/2023, L1 mua số lô 46.64 mỗi con 1.050 điểm = 46.800.000 đồng và L1 thua. L bán lại: 2.100 điểm x 21.7 = 45.570.000 đồng, thu lợi 1.230.000 đồng.
- Tổng cộng L1 đã mua số lô đề của L là 10 lần, tổng số điểm lô là 14.000 điểm lô = 312.290.000 đồng. L1 trúng 2.950 điểm x 800.000 đồng/điểm = 236.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền L1 sử dụng để đánh bạc là 548.290.000 đồng và L1 thua số tiền 76.290.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Quốc V khai nhận nhờ L1 mua hộ số lô đề của L như sau:
- Ngày 16/7/2023, V nhờ L1 mua số lô 76 x 500 điểm x 22.5 = 11.250.000 đồng, đề 76.67x1.000.000 đồng, đề 3 càng 706.607x500.000 đồng (đề và đề 3 cảng 1.000.000 đồng thu 900.000 đồng = 2.700.000 đồng). Tổng số tiền mua số lô đề là 13.950.000 đồng. L bán lại lô 500 điểm x 21.7 = 10.850.000 đồng, thu lợi được 400.000 đồng. Bán lại đề: 3.000.000 đồng x 72% = 2.160.000 đồng, thu lợi 540.000 đồng.
- Ngày 21/8/2023 V nhờ L1 mua số lô 65 x 500 điểm = 11.150.000 đồng và L1 thua. L bán lại: 500 điểm x 21.7 = 10.850.000 đồng, thu lợi 300.000 đồng.
Như vậy, Nguyễn Quốc V nhờ L1 mua hộ tổng số điểm lô là 1.000 điểm = 22.400.000 đồng, số tiền đề là 2.700.000 đồng. Tổng số tiền V sử dụng để đánh bạc là 25.100.000 đồng. V thua và đã thanh toán cho L1 số tiền trên để trả cho L. Nguyễn Văn L1 mua hộ số lô đề cho V không thu lợi gì.
Tổng số lợi nhuận L thu được từ việc mua bán số lô đề với L1 là 9.730.000 đồng.
* Đối với Vũ Văn H, quá trình điều tra xác định H có hành vi mua bán số lô đề ngày 07/09/2023 như sau:
- H đã trực tiếp bán số lô đề cho khách gồm: Lô 860 điểm x 22.5 = 19.350.000 đồng, đề 3.850.000 đồng và nhận bảng lô đề như trên do L chuyển. Như vậy, tổng số tiền bảng lô đề của H là: 105.822.500 đồng. Tổng số tiền lô đề sẽ thu thực tế của khách là: 104.637.500 đồng, gồm:
- - Tổng số lô là 4.449 điểm = 98.602.500 đồng (trong đó 3.000 điểm lô giá 22.000đ/điểm = 66.000.000 đồng, 1.449 điểm lô giá 22.500đ/điểm = 32.602.500 đồng).
- - Tổng số tiền đề là 6.540.000 đồng (tiền thu thực tế là 6.540.000 đồng x 85% = 5.559.000 đồng),
- - Tổng số tiền lô xiên 680.000 đồng (tiền thu thực tế là 680.000 đồng x 70% = 476.000 đồng).
- * Vũ Văn H đã bán lại số lô, đề và hưởng lợi như sau: H và L là hai vợ chồng nên sau khi H nhận các số lô đề do L và khách chuyển thì sẽ bán lại cho Nguyễn Xuân H, Vũ Thị D và giữ lại một số lô đề để tính thắng thua với khách. Số lợi nhuận được hưởng mỗi ngày thì L và H cùng hưởng chung.
- + Bán cho Nguyễn Xuân H 2.100 điểm lô (H thu của khách 1.000 điểm x 22.000đ/điểm = 2.200.000 đồng, 1.100 điểm x 22.500đ/điểm = 24.750.000 đồng, tổng tiền lô thu của khách là 46.750.000 đồng) rồi bán lại cho Hùng giá 21.700đ/ điểm = 45.570.000 đồng. Số tiền hưởng lợi là 1.180.000 đồng.
- + Bán cho H tổng số tiền đề 5.050.000 đồng x 72% = 3.636.000 đồng. Thực tế H thu của khách 85% tổng tiền ghi trên bảng = 4.292.500 đồng. Số tiền hưởng lợi là 656.500 đồng. H đã trả cho Nguyễn Xuân H 21.110.000 đồng còn số tiền trúng hai bên chưa thanh toán.
- - Bán cho D 1800 điểm (H thu của khách 22.000đ/điểm = 39.600.000 đồng) rồi bán lại giá x21.700đ/điểm = 39.060.000 đồng. Số tiền hưởng lợi là 540.000 đồng. H đã trả cho D số tiền là 39.060.000 đồng.
- - Đối với số lô đề H giữ lại để tính thắng thua với khách gồm:
- + Lô 549 điểm (H bán cho khách 200 điểm x 22.000đ/điểm = 4.400.000 đồng, 349 điểm x 22.500 đồng = 7.852.500 đồng. Tổng tiền lô thu của khách = 12.252.500 đồng). Sau đó, khách trúng 115 điểm lô x 80.000đ/điểm = 9.200.000 đồng, số tiền hưởng lợi là 3.052.500 đồng.
- + Số tiền đề bán cho khách là 1.490.000 đồng, H thu thực tế của khách là 1.266.500 đồng. Khách trúng đề 20.000 đồng x 70.000 = 1.400.000 đồng. H thua 133.500 đồng + Số tiền lô xiên bán cho khách: 680.000 đồng, H thu thực tế 476.000 đồng. Số tiền hưởng lợi là 476.000 đồng.
Sau khi có kết quả xổ số thì số lô đề trên bảng của L trúng: 225 điểm lô x 80.000đ/điểm = 18.000.000 đồng và đề 20.000 đồng x 70.000 đồng = 1.400.000 đồng (Tổng cộng tiền trúng là 19.400.000 đồng). Số lô H nhận của khách trúng 790 điểm x 80.000đ/điểm = 63.200.000 đồng. Tổng cộng số tiền khách trúng là 82.600.000 đồng.
Vì vậy, tổng số tiền Vũ Văn H tổ chức đánh bạc là: 187.237.500 đồng (gồm số tiền bán số lô đề là 104.637.500 đồng và số tiền khách trúng là 82.600.000 đồng). Tổng số tiền thu lợi của H và L là 5.771.500 đồng.
* Đối với Nguyễn Xuân H, tại cơ quan điều tra, H khai nhận: Đầu tháng 9/2023, Vũ Văn H bàn bạc với H tổ chức đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô đề. H đồng ý, vì vậy sau khi bán số lô đề được cho khách ngày 07/09/2023, H sử dụng số điện thoại 086225XXXX nhắn tin đến số điện thoại 096167XXXX của H để bán cho H số lô đề. Ngày 07/09/2023, H đã bán cho H tổng số lô, đề là: 2.100 điểm lô với giá 21.700 đ/01 điểm = 45.570.000 đồng và 5.050.000 đồng tiền số đề (Đối với số đề H thỏa thuận mua lại của H với giá 72% của số tiền 5.050.000 đồng, tức là H mua của H số tiền đề là 3.636.000 đồng), sau khi có kết quả quay sổ xố thì sẽ tính thắng thua với H. Tổng số tiền bảng lô đề H mua của H ngày 07/09/2023 là: 49.206.000 đồng, số lô H bán cho H trúng 900 điểm lô = 72.000.000 đồng. Vũ Văn H đã chuyển cho H 21.110.000 đồng tiền bán các số lô đề. Sau khi có kết quả thì H thua 22.794.000 đồng và chưa thanh toán tiền với H. Như vậy, số tiền Nguyễn Xuân H tổ chức đánh bạc là 121.206.000 đồng.
* Đối với Vũ Thị D, tại Cơ quan điều tra, D khai nhận như sau: Khoảng 17 giờ 41 ngày 07/09/2023, Vũ Văn H (là cháu ruột của D) nhắn tin vào zalo số điện thoại 096292XXXX của D để bán số lô 37x1800 điểm, D đồng ý và mua số lô của H với giá 21.700 đồng/1 điểm, tổng số tiền là 39.060.000 đồng, D giữ lại số lô trên để tính thắng thua với H. Sau khi có kết quả xổ số thì D thắng số tiền mua lô của H và H đã chuyển khoản thanh toán tiền cho D. Như vậy, số tiền Tổ chức đánh bạc của Vũ Thị D là 39.060.000 đồng.
Đối với các đối tượng sử dụng zalo tên "Thành Nguyễn", "Thanh Mai" và zalo tên "Phu quy Nguyen" để mua số lô, đề của Trương Thị L, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách rút số 44/QĐCSHS ngày 14/12/2023 để tiếp tục điều tra làm rõ sau.
Đối tượng Trần Hữu D, Nguyễn Văn M, Đỗ Duy T, Nguyễn Văn H, Nguyễn Việt D, Đào Văn C, Đặng Xuân K, Bùi Đắc N có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô đề, số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Xác minh nhân thân chưa có tiền án, tiền sự về hành vi Đánh bạc. Vì vậy, Cơ quan CSĐT - CAQ Cầu Giấy ra quyết định XPHC đối với Trần Hữu D, Nguyễn Văn M, Đỗ Duy T, Nguyễn Văn H, Nguyễn Việt D, Đào Văn C, Đặng Xuân K, Bùi Đắc N về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền là 350.000 đồng, theo khoản 1 điều 28 NĐ144/CP.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Cầu Giấy đã tạm giữ của Trần Đức T 01 điện thoại di động Iphone 11 promax; Nguyễn Văn M 01 điện thoại di động Realmi; Đỗ Duy T 01 điện thoại di động Iphone 6S plus; Nguyễn Phương N 01 điện thoại di động Iphone 12 promax; Nguyễn Quốc V 01 điện thoại di động Iphone 12 promax; Nguyễn Xuân H số tiền 21.110.000 đồng; Vũ Thị D số tiền 39.060.000 đồng; Nguyễn Văn H số tiền 250.000 đồng; Nguyễn Việt D số tiền 3.630.000 đồng; Đặng Xuân K số tiền 1.500.000 đồng; Trần Hữu D số tiền 230.000 đồng; Bùi Đắc N số tiền 1.650.000 đồng.
Tổng số tiền thu giữ là: 94.946.500 đồng. Toàn bộ các tài sản trên là của các đối tượng sử dụng để tổ chức đánh bạc và đánh bạc nên chuyển đến Chi cục THADS để giải quyết theo quy định.
Đối với đối tượng tên Quang và các đối tượng khác mua số lô, đề của L và H ngày 07/09/2023 hiện Cơ quan điều tra chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch. Cơ quan CSĐT - CAQ Cầu Giấy tách rút phần liệu L quan đến các đối tượng trên để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trương Thị L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Nguyễn Văn L1, Nguyễn Quốc V và Nguyễn Phương N phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trương Thị L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/09/2023 đến ngày 09/11/2023.
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn L1 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến ngày 15/12/2023.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Quốc V 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/11/2023 đến ngày 28/11/2023.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Phương N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án còn xử phạt các bị cáo khác hình phạt từ 20 tháng đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/3/2024 bị cáo Trương Thị L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 11/3/2024 bị cáo Nguyễn Văn L1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo; ngày 12/3/2024 bị cáo Nguyễn Quốc V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và ngày 06/3/2024 bị cáo Nguyễn Phương N có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Trương Thị L, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Quốc V và Nguyễn Phương N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quy kết. Các bị cáo đều giữ nguyên yêu cầu kháng cáo với lý do: bị cáo Trương Thị L ốm đau, 03 con nhỏ, chồng không có công việc, bị cáo là lao động chính trong gia đình, gia đình có công với cách mạng; bị cao Nguyễn Văn L1 có 02 con nhỏ, bố, mẹ mất sớm; bị cáo Nguyễn Quốc V 02 con nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị cáo Nguyễn Phương N là trụ cột trong gia đình, mẹ già 84 tuổi, bị cáo có giấy khen đã ủng hộ quỹ vì người nghèo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, nhân thân của các bị cáo, vai trò của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, xem xét kháng cáo của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị L, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Quốc V và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phương N, giữ nguyên mức án 09 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 tháng.
- Các quyết định khác là phù hợp nên không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Thị L, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Quốc V và Nguyễn Phương N đều đúng về mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Thị L, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Quốc V và Nguyễn Phương N phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan, tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo:
- Bị cáo Trương Thị L đã thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, đề ngày 07/09/2023 cho 12 khách với số tiền là 102.022.500 đồng (gồm số tiền bán lô, đề là 82.622.500 đồng và số tiền trúng là 19.400.000 đồng). Ngoài ra, trong tháng 7, 8/2023, L mua, bán số lô, đề với số tiền là 573.390.000 đồng (gồm số tiền bán số lô, đề là 337.390.000 đồng và số tiền trúng là 236.000.000 đồng). Tổng số tiền Trương Thị L tổ chức đánh bạc là 675.412.500 đồng, hưởng lợi 9.730.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Văn L1 thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô, đề trong tháng 7, 8/2023 với tổng số tiền là 573.390.000 đồng (gồm số tiền mua số lô, đề là 337.390.000 đồng và số tiền trúng là 236.000.000 đồng), L1 thua số tiền 76.290.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Quốc V thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô, đề vào ngày 16/07/2023 và ngày 21/8/2023 với tổng số tiền là 25.100.000 đồng, V thua hết số tiền trên.
- Bị cáo Nguyễn Phương N thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô, đề ngày 07/09/2023 với tổng số tiền 20.600.000 đồng (gồm số tiền mua số lô, đề là 4.600.000 đồng và số tiền trúng là 16.000.000 đồng).
Hành vi nêu trên của bị cáo Trương Thị L đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Văn L1 bị xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Quốc V và Nguyễn Phương N bị xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trương Thị L, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Quốc V và Nguyễn Phương N thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án, vai trò của các bị cáo, nhân thân của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo như: xác định đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành; bị cáo Trương Thị L tổ chức đánh bạc trong nhiều ngày là phạm tội nhiều lần, được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn L1, Nguyễn Quốc V tham gia đánh bạc trong nhiều ngày được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo Trương Thị L chưa có tiền án, tiền sự và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đã xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 10 tháng tù về tội “Đánh bạc” là phù hợp, do vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc V và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Tòa cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trương Thị L 03 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 04 năm tù về tội “Đánh bạc” là còn quá nghiêm khắc, bởi lẽ bị cáo Trương Thị L có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; bị cáo Nguyễn Văn L1 nhân thân có 01 tiền sự được xóa đã lâu, các bị cáo đều lần đầu bị đưa ra xét xử và có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do vậy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Thị L và Nguyễn Văn L1, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị các nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo được yên tâm cải tạo sớm trở thành con người lương thiện.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt 09 tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Phương N về tội “Đánh Bạc” là phù hợp, tuy nhiên buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội là không cần thiết. Bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc không lớn; bị cáo có 01 tiền án song được xóa đã lâu; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình đang phải nuôi con nhỏ, mẹ già, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do vậy có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Phương N thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội mà cũng không gây nguy hại cho xã hội.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.
[5] Bị cáo Nguyễn Quốc V kháng cáo không được cấp phúc thẩm chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Trương Thị L, Nguyễn Văn L1 và Nguyễn Phương N kháng cáo được cấp phúc thẩm chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự,
- Sửa một phần bản án sơ thẩm:
- Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Thị L 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/9/2023 đến ngày 09/11/2023) về tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (Được trừ thời gian tạm giam từ ngày 19/11/2023 đến ngày 15/12/2023) về tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc V 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/11/2023 đến ngày 28/11/2023) về tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phương N 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 14/6/2024 về tội “Đánh bạc”.
- Về án phí:
- Bị cáo Nguyễn Quốc V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Bị cáo Trương Thị L, Nguyễn Văn L1 và Nguyễn Phương N không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Giao bị cáo Nguyễn Phương N cho UBND phường K H, quận H Đ, TP Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Ngọc Cảnh |
Bản án số 505/2024/HS-PT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 505/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thị L - Tổ chức đánh bạc
