Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 505/2025/DS-ST

Ngày: 19-6-2025

V/v tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bông Hường

Ông Phạm Quốc Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Ngọc Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2025 và ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 760/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 563/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 757/2025/QÐST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S

Trụ sở: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Đình L (Giấy uỷ quyền số 5967/2024/UQ-TGĐ ngày 27/8/2024). (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Vũ Thị Song P, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số A N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện và B tự khai, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Đình L trình bày:

Ngày 03/03/2022, bà Vũ Thị Song P ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2.48%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Vũ Thị Song P đã giao dịch 905.181.341 đồng.

Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Bà P phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà P đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 815.216.648 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
  • + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
  • + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
  • + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
  • + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà P vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 06/07/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 112.598.064 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Tính đến ngày 19/6/2025, bà Vũ Thị Song P còn nợ các khoản sau:

  • Nợ gốc: 112.598.064 đồng.
  • Lãi quá hạn: 99.909.810 đồng.
  • Tổng cộng: 212.507.874 đồng.

Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 112.598.064 đồng với lãi suất quá hạn là 3.72% tháng (2.48%* 150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà P, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên bà P vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Vũ Thị Song P thanh toán số tiền nợ gốc 112.598.064 đồng và tiền lãi chậm trả cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quá hạn quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S, tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 99.909.810 đồng, tổng cộng là 212.507.874 đồng và có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 20/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn là bà Vũ Thị Song P không có lời khai tại Tòa án, vắng mặt khi Tòa án triệu tập làm việc, hòa giải và xét xử.

Tòa án không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải, bị đơn vắng mặt liên tiếp hai lần mặc dù đã được thông báo, triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn về nợ gốc và tiền lãi quá hạn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Theo Đơn khởi kiện Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Vũ Thị Song P trả nợ gốc và lãi theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S, bà Vũ Thị Song P có địa chỉ cư trú tại số A N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét, đây là tranh chấp hợp đồng cụ thể là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bà Vũ Thị Song P vắng mặt tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu của đương sự: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Vũ Thị Song P thanh toán số tiền nợ gốc 19/06/2025 là 212.507.874 đồng và tiền lãi chậm trả cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quá hạn quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S, tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 99.909.810 đồng, tổng cộng là 212.507.874 đồng và có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 20/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S ngày 03/03/2022 bà Vũ Thị Song P ký với Ngân hàng thì sự thỏa thuận của các bên đương sự là tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định của pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 386 và Điều 388 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bà P không có lời khai tại Tòa án, không cung cấp bất kỳ chứng cứ, tài liệu phản bác yêu cầu của nguyên đơn, vắng mặt khi được Tòa án triệu tập làm việc, hòa giải và tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án căn cứ vào yêu cầu, các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp để giải quyết vụ án.

Căn cứ lời khai của nguyên đơn, Tóm tắt sao kê và các chứng từ do nguyên đơn giao nộp thể hiện bà P đã giao kết hợp đồng thẻ tín dụng với Ngân hàng thông qua Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (Ngân hàng phê duyệt ngày 04/03/2022).

Ngân hàng đơn phương các tài liệu sau: Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 29/11/2019. Mặc dù bà P không trực tiếp ký nhận các tài liệu này nhưng vẫn tiếp tục giao dịch từ ngày kích hoạt thẻ cho đến lần giao dịch (thanh toán) cuối cùng vào ngày 05/5/2023. Do đó, các tài liệu nêu trên được xác định là chứng cứ để giải quyết vụ án.

Từ các căn cứ vừa nêu, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Bà P đã giao kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S ngày 03/3/2022 (Ngân hàng phê duyệt ngày 04/3/2022) với Ngân hàng, hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng, lãi suất 2,48%/tháng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Trên thực tế, bà P đã thực hiện các giao dịch bằng thẻ tín dụng với số tiền 905.181.341 đồng, bà Vũ Thị Song P đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 815.216.648 đồng. Số tiền thanh toán từng đợt được trừ vào tiền lãi và phí trước, sau đó mới được trừ vào nợ gốc theo thỏa thuận tại Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên tính đến ngày 19/6/2025, bà P chưa thanh toán cho Ngân hàng số tiền dư nợ gốc là 112.598.064 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn buộc bà P trả nợ gốc 112.598.064 đồng và tiền lãi theo lãi suất quá hạn theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là có lợi cho bị đơn và có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 23 Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 29/11/2019 thì tiền lãi chậm trả tạm tính đến ngày 19/06/2025 là 99.909.810 đồng.

Như vậy, bà P phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc số tiền nợ gốc 112.598.064 đồng và tiền lãi chậm trả cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quá hạn quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S, tạm tính đến ngày 19/06/2025 là 99.909.810 đồng, tổng cộng là 212.507.874 đồng.

Từ ngày 20/6/2025 cho đến khi trả hết nợ, bà P còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng TMCP S phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S.

[4] Về án phí: Vì toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.625.393 đồng.

[5] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung của vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

Buộc bà Vũ Thị Song P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tiền 212.507.874 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S ngày 03/03/2022 (trong đó nợ gốc là 57.028.226 đồng và tiền lãi là 48.741.660 đồng).

Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Từ ngày 20/6/2025 cho đến khi trả hết nợ, bà P còn có nghĩa vụ trả lãi cho Ngân hàng TMCP S phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (Bà P ký ngày 03/3/2022 được Ngân hàng TMCP S phê duyệt ngày 04/3/2022) và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn bà Vũ Thị Song P phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 10.625.393 đồng.

H lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.890.904 đồng theo biên lai thu số 0040347 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng thương mại cổ phần S và bà Vũ Thị Song P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; An hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND Tp.HCM;
  • - VKSND quận Tân Phú;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 505/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 505/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger