Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 504/2024/DS-ST

Ngày: 13-6-2024.

V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Ngọc Mỹ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thanh Dung
  2. Bà Lê Thị Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Ánh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Nam Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1008/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2024/QĐST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 58/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

Trụ sở: Tầng 1 (tầng trệt) và tầng 2, Tòa nhà S, A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H - Giám đốc Trung tâm Q1.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hoàng M, bà Nguyễn Kim N và bà Nguyễn Thị Thanh V1. (có mặt)

Cùng địa chỉ: Tầng F, tòa nhà P, B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền số: 079615.24 ngày 19/4/2024)

2. Bị đơn: Bà Trần Nhật V2, sinh năm 1991. (vắng mặt)

Địa chỉ: 1 L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/8/2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (người đại diện theo ủy quyền ông Trần Hoàng M, bà Nguyễn Kim N và bà Nguyễn Thị Thanh V1) trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (viết tắt V3) - V3 ký với bà Trần Nhật V2 Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số: 7823771.19 ngày 26/9/2019 với nội dung V3 cho khách hàng Trần Nhật V2 vay số tiền 500.000.000 đồng, mục đích giải ngân thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford số loại Ranger. Thời hạn vay 96 tháng từ ngày 28/9/2019 đến ngày 27/9/2027; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9.9%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là lãi suất cở sở theo sản phẩm trong kỳ + biên độ 3.5%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của V3 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4.1%/năm. Hoàn trả khoản vay gốc hàng tháng vào ngày 27 trà 5.208.000 đồng, phần còn lại thanh toán vào cuối kỳ. Hoàn trả lãi hàng tháng vào ngày 27, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 27/9/2019. Trả phí theo quy định của V3 từng thời kỳ. Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. V3 đã giải ngân cho bà V2 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 7823771(1).19 ngày 27/9/2019 với số tiền 500.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng.

Ngày 01/10/2019, khách hàng Trần Nhật V2 có đơn Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản. Theo đó, V3 đã phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng Trần Nhật V2 với hạn mức tín dụng là 40.000.000 đồng, loại thẻ V3, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất vay theo quy định của V3 trong từng thời kỳ. Khoản vay có tài sản bảo đảm, theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số: 1754795.19 ngày 26/09/2019. Tuy nhiên, V3 không yêu cầu giải quyết đối với tài sản bảo đảm này.

Quá trình thực hiện hợp đồng bà V2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Tạm tính đến ngày 13/6/2024, bà V2 đã thanh toán cho V3 theo Hợp đồng tín dụng số: 7823771.19 ngày 26/9/2019 là 245.000 đồng (trong đó gốc là 245.000 đồng, lãi là 0 đồng) và thanh toán thẻ tín dụng 5.780.000 đồng. Tạm tính đến ngày 13/6/2024, bà V2 còn nợ V3 tổng số tiền 1.105.629.259 đồng, trong đó dư nợ theo hợp đồng tín dụng số: 7823771.19 ngày 26/9/2019 là 960.102.801 đồng (trong đó nợ gốc 499.755.000 đồng, nợ lãi trong hạn 4.204.110 đồng, nợ lãi quá hạn 456.143.691 đồng) và dư nợ thẻ tín dụng là 145.526.458 đồng (trong đó nợ gốc 39.899.000 đồng, nợ lãi 54.532.082 đồng, phí 51.095.376 đồng).

Do đó, V3 khởi kiện yêu cầu bà V2 phải trả ngay cho V3 tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/6/2024 là 1.105.629.259 đồng, trong đó dư nợ theo Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số: 7823771.19 ngày 26/9/2019 là 960.102.801 đồng (trong đó nợ gốc 499.755.000 đồng, nợ lãi trong hạn 4.204.110 đồng, nợ lãi quá hạn 456.143.691 đồng) và dư nợ thẻ tín dụng là 145.526.458 đồng (trong đó nợ gốc 39.899.000 đồng, nợ lãi 54.532.082 đồng, phí 51.095.376 đồng). Bà V2 phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 14/6/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký.

Bị đơn bà Trần Nhật V2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa, nhưng bà V2 vắng mặt không lý do.

* Tại phiên tòa hôm nay:

Ông Trần Hoàng M, bà Nguyễn Kim N và bà Nguyễn Thị Thanh V1 (đại diện theo ủy quyền của V3) trình bày: VIB vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà V2 thanh toán cho V3 tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/6/2024 là 1.105.629.259 đồng, trong đó dư nợ theo Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số: 7823771.19 ngày 26/9/2019 là 960.102.801 đồng (trong đó nợ gốc 499.755.000 đồng, nợ lãi trong hạn 4.204.110 đồng, nợ lãi quá hạn 456.143.691 đồng) và dư nợ thẻ tín dụng là 145.526.458 đồng (trong đó nợ gốc 39.899.000 đồng, nợ lãi 54.532.082 đồng, phí 51.095.376 đồng). Yêu cầu bà V2 phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 14/6/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký. VIB không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số: 1754795.19 ngày 26/9/2019.

Bị đơn bà V2 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp:

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (viết tắt V3) khởi kiện yêu cầu bà V2 thanh toán khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số: 7823771.19 ngày 26/9/2019 và Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 01/10/2019 giữa V3 và bà V2. Xét đây tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết:

Theo nội dung Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số: 7823771.19 ngày 26/9/2019 và Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 01/10/2019, bà V2 cung cấp địa chỉ hiện tại và thường trú tại 1 L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh của Công an P, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số: 253/2024/QĐ-CCTTLCC ngày 30/01/2024, bà V2 có hộ khẩu thường trú 137/12 L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, thực tế không sinh sống tại địa phương.

Căn cứ Điều 5 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, địa chỉ của bà V2 tại 1 L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là địa chỉ bà V2 từng cư trú mà VIB biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa V3 và bà V2 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa vào ngày 07/5/2024, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa vào ngày 23/5/2024, quyết định tạm ngừng phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa vào ngày 13/6/2024 cho bà V2 nhưng bà V2 không đến Tòa án tham gia tố tụng, không có ý kiến với yêu cầu khởi kiện của V3, không cung cấp tài liệu chứng cứ và vắng mặt không có lý do.

Căn cứ khoản 4 Điều 91; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà V2 và giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập.

[4] Về nội dung tranh chấp, hội đồng xét xử nhận định như sau:

[4.1] Theo Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số: 7823771.19 ngày 26/9/2019, bà V2 vay của V3 số tiền 500.000.000 đồng, mục đích giải ngân thanh toán mua 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford theo Hợp đồng mua bán xe số: 060-1909/PMF-HĐMB ký ngày 13/9/2019. Đồng thời, bà V2 cũng xác nhận đã đọc, hiểu rõ Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng (đính kèm hợp đồng tín dụng). Xét, nội dung Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số: 7823771.19 ngày 26/9/2019 phù hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 13 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1, nên có hiệu lực.

Theo bảng chi tiết tính lãi đến ngày 13/6/2024 do đại diện VIB cung cấp thể hiện bà V2 chỉ thanh toán cho VIB số tiền gốc là 220.000 đồng vào kỳ thanh toán từ ngày 27/12/2019 - 06/01/2020 và 25.000 đồng vào kỳ thanh toán từ ngày 22/7/2020 - 14/5/2020 và cho đến thời điểm VIB khởi kiện, bà V2 không thanh toán thêm bất kỳ khoản nợ nào cho V3, là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại mục 1.4 Điều 1 của Điều khoản và điều kiện cấp tín dụng (đính kèm theo hợp đồng tín dụng). Tính đến ngày 13/6/2024, bà V2 còn nợ VIB số tiền nợ gốc là 499.755.000 đồng.

Do đó, căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 18 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1, V3 yêu cầu bà V2 thanh toán nợ gốc 499.755.000 đồng là có cơ sở, nên chấp nhận.

Theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 7823771(1).19 ngày 27/9/2019, V3 đã giải ngân cho bà V2 số tiền 500.000.000 đồng, ngày giải ngân 27/9/2019. Thời hạn vay 96 tháng từ ngày 28/9/2019 đến ngày 27/9/2027. Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9.9%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là lãi suất cở sở theo sản phẩm trong kỳ + biên độ 3.5%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của V3 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4.1%/năm. Hoàn trả khoản vay gốc hàng tháng vào ngày 27 trà 5.208.000 đồng, phần còn lại thanh toán vào cuối kỳ. Hoàn trả lãi hàng tháng vào ngày 27, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 27/9/2019. Trả phí theo quy định của V3 từng thời kỳ. Lãi suất do VIB áp dụng dựa trên quy định tại Bảng giá cho vay khối NHBL của V3. Mức lãi suất mà VIB áp dụng là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 18 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1.

Do bà V2 không thanh toán nợ gốc cho V3 vào ngày đến hạn, nên VIB chuyển t nợ gốc 499.755.000 đồng sang nợ quá hạn và bà V2 phải trả lãi trong hạn theo thỏa thuận giữa các bên tại mục 1.4 của Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số: 7823771.19 ngày 26/9/2019, mục 6 của Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 7823771(1).19 ngày 27/9/2019. Do đó, VIB yêu cầu bà V2 trả nợ lãi trong hạn 4.204.110 đồng và nợ lãi quá hạn 456.143.691 đồng tạm tính đến ngày 13/6/2024 là có cơ sở, nên chấp nhận.

Đồng thời, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của VIB buộc bà V2 tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số: 7823771.19 ngày 26/9/2019.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V3, buộc bà V2 có trách nhiệm thanh toán cho V3 tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/6/2024 theo Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số: 7823771.19 ngày 26/9/2019 là 960.102.801 đồng (trong đó nợ gốc 499.755.000 đồng, lãi trong hạn 4.204.110 đồng, lãi quá hạn 456.143.691 đồng). Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà V2 còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số: 7823771.19 ngày 26/9/2019.

[4.2] Để đảm bảo cho khoản vay, V3 và bà V2 đã ký Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số: 1754795.19 ngày 26/9/2019, phụ lục 1 và đăng ký biện pháp bảo đảm thể hiện tại Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng ngày 26/9/2019 và Văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, hợp đồng ngày 27/9/2019 của Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại đơn khởi kiện ngày 06/8/2021 và tại phiên tòa hôm nay, đại diện ủy quyền của V3 xác nhận VIB không yêu cầu Hội đồng xét xử xử lý tài sản bảo đảm là xe ô tô tải nhãn hiệu Ford, số loại Ranger, màu sơn ghi vàng, số khung MNCLMFF80KW996939, số máy P4AT2801399, biển số 51D-613.53, chủ sở hữu Trần Nhật V2 (giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 508417 do Công an Thành phố H cấp ngày 25/9/2019) nên Hội đồng xét xử không xét.

[4.3] Theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 01/10/2019, VIB cấp cho bà V2 thẻ VIB Happy Drive, số thẻ 5138920000265390, hạn mức 40.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng, lãi suất và phí theo quy định của V3 trong từng thời kỳ. Đồng thời, bà V2 cũng xác nhận đã đọc và đồng ý với Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB. Xét thấy, nội dung Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 01/10/2019 phù hợp quy định tại điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 13 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN 30/6/2016 của Ngân hàng N1, nên có hiệu lực pháp luật.

Theo bảng chi tiết tính lãi đến ngày 13/6/2024 do đại diện V3 cung cấp thể hiện: Quá trình sử dụng thẻ, dự nợ gốc của bà V2 là 43.500.000 đồng, đã thanh toán trong kỳ 4.500.000 đồng nên nợ gốc còn lại là 39.899.000 đồng; bà V2 đã trả lãi 1.280.000 đồng vào kỳ thanh toán từ ngày 10/12/2019-10/01/2020 và cho đến thời điểm VIB khởi kiện, bà V2 không thanh toán thêm bất kỳ khoản nợ nào, là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại mục 8.0 của Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB. Tính đến ngày 13/6/2024, bà V2 còn nợ VIB số tiền nợ gốc theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 01/10/2019 là 39.899.000 đồng. Do đó, căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), V3 yêu cầu bà V2 thanh toán nợ gốc là 499.755.000 đồng là có cơ sở, nên chấp nhận.

Mức lãi suất VIB áp dụng là 30%/năm thể hiện tại Biểu phí và Điều khoản điều kiện V3 và thỏa thuận tại mục 10.2 Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 13 của Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, do đó VIB yêu cầu bà V2 thanh toán nợ lãi (lãi trong hạn - lãi đã trả) = 55.812.082 đồng - 1.280.000 đồng = 54.532.082 đồng tạm tính đến ngày 13/6/2024, là có cơ sở nên chấp nhận.

Đồng thời, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của VIB buộc bà V2 tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 01/10/2019.

[4.4] Về yêu cầu của V3 buộc bà V2 thanh toán tổng các khoản nợ phí là 51.095.376 đồng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo mục 10.1 Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB các bên thỏa thuận “Chủ thẻ đồng ý trả cho V3 phí phát hành và/hoặc phí thường niên để duy trì thẻ theo quy định của V3 từng thời kỳ. Các loại phí khác theo quy định tại Biểu phí dịch vụ thẻ cua VIB tại từng thời kỳ”. Theo Biểu phí và Điều khoản điều kiện V3: Phí thường niên thẻ chính là 899.000 đồng. Phí chậm thanh toán là 4%/số tiền cần thanh toán (tối thiểu 200.000 đồng, tối đa 2.000.000 đồng), áp dụng trên toàn bộ dư nợ cuối kỳ chưa thanh toán theo thông báo của bảng sao kê thẻ tín dụng hàng tháng. Phí vượt hạn mức là 4%/số tiền vượt hạn mức (tối thiểu 50.000 đồng).

Theo bảng chi tiết tính lãi đến ngày 13/6/2024 do đại diện VIB cung cấp thể hiện bà V2 còn nợ phí tổng cộng là 51.095.376 đồng, trong đó:

  • + Phí thường niên năm 2019 là 899.000 đồng, bà V2 đã thanh toán 899.000 đồng vào kỳ thanh toán từ ngày 10/10/2019-10/112019. Phí thường niên năm 2020 là 899.000 đồng, bà V2 chưa thanh toán cho V3;
  • + Phí chậm thanh toán là 31.066.013 đồng, tính từ ngày 10/11/2019 đến ngày 10/3/2021;
  • + Phí vượt hạn mức là 19.130.363 đồng, tính từ ngày 10/10/2019 đến ngày 10/3/2021.

Căn cứ quy định Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Theo khoản 1 Điều 5 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1: “Chỉ TCPHT được thu phí của chủ thẻ. TCPHT thu phí theo Biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức mình và không được thu thêm bất kỳ loại phí nào ngoài Biểu phí đã công bố. Biểu phí dịch vụ thẻ phải nêu rõ các loại phí, mức phí áp dụng cho từng loại thẻ và dịch vụ thẻ. Biểu phí dịch vụ thẻ của TCPHT phải phù hợp với quy định của pháp luật, được niêm yết công khai và phải cung cấp cho chủ thẻ trước khi sử dụng và khi có sự thay đổi. Các hình thức thông báo và cung cấp thông tin về phí cho chủ thẻ phải được quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ. Thời gian từ khi thông báo đến khi áp dụng các thay đổi về phí tối thiểu là 07 ngày và phải được quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ”.

Do đó, VIB yêu cầu bà V2 thanh toán tổng các khoản nợ phí là 51.095.376 đồng là có sơ sở, nên chấp nhận.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V3, buộc bà V2 có trách nhiệm thanh toán cho V3 tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/6/2024 theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 01/10/2019 là 145.526.458 đồng (trong đó nợ gốc 39.899.000 đồng, lãi 54.532.082 đồng, phí 51.095.376 đồng). Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà V2 còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 01/10/2019.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của V3, đồng thời phù hợp với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của V3 được chấp nhận nên bà V2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 45.168.878 đồng, căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

V3 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a, điểm d khoản 3 Điều 98, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ Điều 13 và Điều 18 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;

Căn cứ khoản 1 Điều 5 và Điều 13 Thông tư số: 19/2016/TT-NHNN 30/6/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng;

Căn cứ Điều 5 và khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020 và 2022).

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.
  2. Bà Trần Nhật V2 có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (13/6/2024) là 1.105.629.259 đồng, trong đó:

    • + Theo Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số: 7823771.19 ngày 26/9/2019 là 960.102.801 đồng trong đó nợ gốc 499.755.000 đồng, lãi trong hạn 4.204.110 đồng, lãi quá hạn 456.143.691 đồng;
    • + Theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 01/10/2019 là 145.526.458 đồng, trong đó nợ gốc 39.899.000 đồng, lãi 54.532.082 đồng, phí 51.095.376 đồng (gồm phí thường niên 899.000 đồng, phí chậm thanh toán 31.066.013 đồng tính từ ngày 10/11/2019 đến ngày 10/3/2021, phí vượt hạn mức 19.130.363 đồng tính từ ngày 10/10/2019 đến ngày 10/3/2021).

    Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Bà Trần Nhật V2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 45.168.878 đồng.

    Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.290.000 đồng theo biên lai thu số 0030181 ngày 07/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Về nghĩa vụ thi hành án:
  6. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Nhật V2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng (mua ô tô tiêu dùng) số: 7823771.19 ngày 26/9/2019 và Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 01/10/2019 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q và bà Trần Nhật V2.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020 và 2020) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020 và 2022), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018, 2020 và 2022).

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND quận Phú Nhuận, TPHCM;
  • - Chi cục THADS quận Phú Nhuận, TPHCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Văn Thị Ngọc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 504/2024/DS-ST ngày 13/06/2024 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 504/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger