Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 503/2024/DS-ST

Ngày: 30/7/2024

V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Phước Trinh
  2. Bà Phạm Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 93/2022/TLST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 306/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 367/2024/QĐST-DS ngày 10/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1958 (có mặt).

Địa chỉ: Số M, khu N, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

*Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn:

  1. Bà Trần Thị Kim N, sinh năm: 1982 (xin vắng mặt);
  2. Ông Hồ Vương Quốc S, sinh năm: 1978 (có mặt);

Cùng địa chỉ: Số H, Đường số C, khu đô thị V, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm: 1971 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số C, Đường số F, ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

*Người đại diện theo ủy quyền của Bị đơn: Ông Võ Văn S1, sinh năm: 1971 (có mặt).

Địa chỉ: Khu phố C, Phường C, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1973 (có mặt).
  2. Địa chỉ: Số B, Đường số F, Tổ C, ấp B, xã T, huyện C, TP . Hồ Chí Minh.

  3. Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm: 1967 (đã chết);
  4. * Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N2:

    1. Bà Kiều Thị X, sinh năm: 1968 (xin vắng mặt);
    2. Ông Nguyễn Minh K, sinh năm: 1992 (vắng mặt);
    3. Bà Nguyễn Thị Kim X1, sinh năm: 1995 (xin vắng mặt).

    Cùng địa chỉ: Số C, Đường số F, Tổ G, ấp M, xã P, huyện C, TP . Hồ Chí Minh.

  5. Bà Nguyễn Thị N3, sinh năm: 1965 (có mặt);
  6. Địa chỉ: Số C, Đường số F, Tổ G, ấp M, xã P, huyện C, TP . Hồ Chí Minh.

  7. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1959 (có mặt);
  8. Địa chỉ: Số D, Đường số F, Tổ F, ấp M, xã P, huyện C, TP . Hồ Chí Minh.

  9. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1975 (có mặt);
  10. Địa chỉ: Số B, Đường số F, Tổ E, ấp M, xã P, huyện C, TP . Hồ Chí Minh.

    *Người đại diện ủy quyền của bà V: Bà Nguyễn Thị N3, sinh năm: 1965 (có mặt).

    Địa chỉ: Số C, Đường số F, Tổ G, ấp M, xã P, huyện C, TP . Hồ Chí Minh.

  11. Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm: 1978 (có mặt).
  12. Địa chỉ: Số A, Đường số G, Tổ G, ấp M, xã T, huyện C, TP . Hồ Chí Minh.

  13. Bà Đặng Thị P, sinh năm: 1977 (xin vắng mặt);
  14. Địa chỉ: Số C, Đường số F, ấp M, xã P, huyện C, TP . Hồ Chí Minh.

  15. Bà Nguyễn Huỳnh N4, sinh năm: 1999 (xin vắng mặt);
  16. Địa chỉ: Số C, Đường số F, ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh;

  17. Ông Nguyễn Gia P1, sinh năm 2005 (xin vắng mặt);
  18. Địa chỉ: Số C, Đường số F, ấp M, xã P, huyện C, TP . Hồ Chí Minh;

  19. Bà Kiều Thị X, sinh năm 1968 (xin vắng mặt);
  20. Ông Nguyễn Minh K, sinh năm 1992 (vắng mặt);
  21. Bà Nguyễn Thị Kim X1, sinh năm 1995 (xin vắng mặt);
  22. Ông Hồ Chí C, sinh năm 1987 (xin vắng mặt);
  23. Cháu Hồ Nguyễn Bảo A, sinh năm 2021 (có bà Nguyễn Thị Kim X1 và ông Hồ Chí C là người giám hộ) (vắng mặt).
  24. Cùng địa chỉ: Số C, đường số F, tổ G, ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh

  25. Ủy ban nhân dân huyện C, Tp .. (xin vắng mặt).
  26. Địa chỉ: Số G Tỉnh lộ 8, khu phố G, thị trấn C, huyện C, Tp ..

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh P2.

  27. Văn phòng C1 (xin vắng mặt).
  28. Địa chỉ: Số A Tỉnh lộ 8, khu phố B, thị trấn C, Tp.Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị H và quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của bà H là ông Hồ Vương Quốc S và bà Trần Thị Kim N trình bày:

Bà Nguyễn Thị H2 (chết ngày 05/6/2020) và ông Nguyễn Văn M (chết ngày 23/11/2008) là vợ chồng, chung sống có tất cả 08 người con gồm:

  1. Nguyễn Thị H, sinh năm: 1958;
  2. Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1959;
  3. Nguyễn Thị N3, sinh năm: 1965;
  4. Nguyễn Văn N2, sinh năm: 1967;
  5. Nguyễn Văn N1, sinh năm 1971;
  6. Nguyễn Thị T, sinh năm: 1973;
  7. Nguyễn Thị V, sinh năm: 1975;
  8. Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1978.

Ông M và bà H2 chung sống có tạo lập được tài sản chung như sau: Quyền sử dụng đất với tổng diện tích là 8.083,1m², bao gồm: Đất ở 299,1m²; Đất trồng cây lâu năm 965,6m²; Đất nuôi trồng thủy sản 449,8 m²; Đất trồng cây hằng năm khác 6.368,6 m²; tọa lạc Thửa đất số 40, Tờ bản đồ số 38, địa chỉ: xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 582979, số vào sổ cấp GCN: CH01221, do UBND huyện C cấp ngày 23/11/2011 (nay viết tắt là Thửa đất số 40). Trên đất có ông M, bà H2 có xây dựng một căn nhà ba gian, tường gạch, lợp ngói với tổng diện tích khoảng 200m².

Ngày 03/9/2015, trong trạng thái tinh thần minh mẫn, sáng suốt, bà H2 lập di chúc tại Văn phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 018120, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD, theo đó bà H2 di nguyện sau khi qua đời, toàn bộ quyền sử dụng đất diện tích 8.083,1 m² sẽ thuộc quyền thừa kế của 08 người con. Ngoài ra, bà H2 không để lại di sản nêu trên cho bất kỳ ai khác, cũng không còn bất kỳ người con nào khác, bố mẹ bà H2 đã chết từ lâu.

Ngày 05/6/2020, bà H2 chết, bà H cùng các anh chị em đã tiến hành họp gia đình để phân chia di sản theo di chúc của bà H để lại. Tuy nhiên, do bất đồng quan điểm về phần diện tích đất mỗi người được hưởng, nguyên nhân do ông Nguyễn Văn N1 cho rằng “ông là con trai út trong gia đình nên phải được chia phần diện tích nhiều hơn những người còn lại”. Từ đó, ông N1 khóa cổng và không cho bất cứ anh, chị, em nào được bước vào nhà, đất nêu trên.

Ngày 17/3/2021, bà H gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu giải quyết tranh chấp về việc chia di sản thừa kế do bà H2 để lại theo di chúc. Ủy ban nhân dân xã P đã 03 (ba) lần mời anh chị em đến hòa giải và giải quyết vụ việc trên (lần 1 vào ngày 2/4/2021; lần 2 vào ngày 13/5/2021; lần 3 vào ngày 17/12/2021), nhưng cả 03 lần ông N1 đều vắng mặt không có lý do nên việc hòa giải tại xã không thực hiện được.

Ngày 27/01/2022, bà H đã làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh để khởi kiện ông Nguyễn Văn N1 và yêu cầu Tòa án căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 623, khoản 1 Điều 611, khoản 1 Điều 659 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, xem xét, giải quyết việc tranh chấp phân chia tài sản thừa kế theo di chúc của bà H2 theo nội dung dưới đây để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà H theo luật định:

  1. Phân chia đều di sản thừa kế là căn nhà ba gian, tường gạch, lợp ngói với tổng diện tích khoảng 200 m² cho 08 người con theo quy định về chia tài sản thừa kế theo pháp luật, cụ thể mỗi người con được nhận: 200m²/8= 25 m².
  2. Phân chia đều di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của bà H2 theo Bản di chúc được lập tại Văn phòng công chứng huyện C2, Thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 018120, quyển số 03 TP/CC SCC/HĐGD ngày 03 tháng 9 năm 2015 cho 08 người con, mỗi người con được nhận cụ thể như sau:
    • Đất ở: 299,1 m² /8 = 37,3875 m²;
    • Đất trồng cây lâu năm: 965,6 m² /8 =120,7 m²;
  • Đất nuôi trồng thủy sản: 449,8 m² /8 =56,225 m²;
  • Đất trồng cây hàng năm khác: 6.368,6 m² /8 = 796,075 m²;
  1. Trong trường hợp di sản là căn nhà và quyền sử dụng đất của bà H2 để lại không thể chia được bằng hiện vật thì yêu cầu Tòa án chia bằng tiền theo giá bán của thị trường hoặc căn cứ theo Chứng thư thẩm định giá do Tòa án trưng cầu giám định tại thời điểm giải quyết vụ án.
  2. Buộc ông N1, tháo dỡ các công trình phụ xây dựng trái phép trên đất đang tranh chấp yêu cầu chia thừa kế, khôi phục lại tình trạng ban đầu để giao trả đất cho những người được thừa kế và hoàn trả đầy đủ hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác các công trình phụ trên đất cho các đồng thừa kế theo đúng quy định pháp luật. Tổng hoa lợi, lợi tức yêu cầu hoàn trả được tinh trên số tiền thực tế tại chứng cứ do ông N1 đề nghị bồi thường gồm: Tổng số cây trồng đang cho trái hàng năm, lợi nhuận thu được từ 02 hồ nuôi cá giống, ao cá thịt, các lứa heo nuôi hàng năm... nhân cho tổng số năm mà ông N1 đã chiếm giữ khai thác (kể từ thời điểm ghi trên chứng tử ông N1 đầu tư, xây dựng, nuôi trồng) chia điều cho các đồng thừa kế. Đồng thời, yêu cầu ông N1 chấm dứt hành vi vi phạm cơi nới, xây dựng trái phép trên đất chia thừa kế (theo di chúc của bà H2).
  3. Buộc bà X phải khôi phục tình trạng ban đầu, tháo dỡ các công trình phụ đã xây dựng trên đất đang tranh chấp yêu cầu chia thừa kế để giao trả đất cho những người được thừa kế theo di chúc của bà H2; hoàn trả lại toàn bộ hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác, sử dụng các công trình phụ trên đất cho những người được quyền hưởng thừa kế theo quy định pháp luật. Tổng hoa lợi, lợi tức yêu cầu hoàn trả được tính trên số tiền thực tế tại chứng cứ do bà X đề nghị bồi thường gồm: tổng số cây trồng đang cho trái hàng năm, lợi nhuận thu được từ ao cá thịt, heo, gà nuôi hàng năm... nhân cho số năm mà bà X đã chiếm giữ khai thác (kể từ thời điểm bà X đầu tư, xây dựng, nuôi trồng).

* Tại phiên toà bà H và người đại diện uỷ quyền cùng thống nhất: Đồng ý nhận giá trị bằng tiền theo biên bản định giá của Hội đồng định giá của Ủy ban nhân dân huyện C lập ngày 23/8/2023 và không yêu cầu định giá lại cụ thể: Đất ở có giá 5.000.000đ/m²; đất trồng cây hằng năm khác là 2.500.000đ/m²; đất trồng cây lâu năm là 3.000.000đ/m² và đất nuôi trồng thuỷ sản có giá 1.000.000đ/m². Nếu anh chị em nào nhận phần đất được nhiều hơn thì hoàn lại giá trị bằng tiền cho bà H.

- Về chi phí tố tụng: bà H đã nộp chi phí gồm đo vẽ hiện trạng đất vị trí đất, thẩm định tại chỗ và chi phí thẩm định giá là 30.000.000đồng chia đều cho các anh chị em là 3.750.000đồng. Bà yêu cầu các thừa kế khác hoàn lại cho bà số tiền 3.750.000đồng chi phí tố tụng.

- Theo thực tế diện tích đo vẽ bản đồ hiện trạng vị trí đất ngày 20/7/2022 của công ty TNHH T4 có diện tích là 8015,4m², giảm so với diện tích thực tế so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01221 do UBND huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23/11/2011, bà H đồng ý, không có ý kiến.

- Theo bản đồ hiện trạng vị trí ngày của Công ty TNHH T4, bà đồng ý giao cho các anh em ở các vị trí đất theo bản đồ như sau: hiện tại bà N3 đang ở khu 1 nên giao phần đất khu 1 cho bà Nguyễn Thị N3 tiếp tục quản lý sử dụng; giao khu 6 cho bà Nguyễn Thị V được thừa hưởng di sản của cha mẹ vì hiện tại bà V có chồng-con nhưng chưa có nhà cửa ở ổn định; giao khu 7, 8 cho ông Nguyễn Văn N2 (các thừa kế tố tụng của ông N2 là bà X, cháu K và cháu X1) được tiếp tục quản lý sử dụng vì hiện tại trên đất có nhà và các công trình trên đất của gia đình ông N2; giao khu 2 cho bà Nguyễn Thị H1; Hiện tại ông N1 cùng vợ và các con sinh sống tôn tạo, cải tạo đất và có các công trình kiến trúc trên đất nên giao khu 3,4 và 5 giao cho ông Nguyễn Văn N1 tiếp tục quản lý sử dụng và ông N1 cũng đồng ý giao lại tiền cho các đồng thừa kế khác chưa được nhận tiền. Đối với phần đất tại khu I làm lối đi chung. Ngoài ra nguyện đơn không yêu cầu gì khác.

- Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Võ Văn S1 thống nhất trình bày:

Ông N1 thống nhất với bà H về huyết thống trong gia đình. Thửa đất số 40 nguồn gốc là của bà Nguyễn Thị H2 và ông Nguyễn Văn M. Ngày 03/09/2015, bà H2 có lập bản di chúc tại Văn phòng C2 (nay là Dương Thái H3) để lại Thửa đất số 40 cho 08 người con chung.

Theo bản đồ hiện trạng vị trí ngày của Công ty TNHH T4 bản đồ Hoàng Thịnh đo đạc, trên phần đất khu 3 có căn nhà ba gian có diện tích 200m² hiện ông đang quản lý sử dụng, ông yêu cầu được nhận căn nhà này để thờ cúng.

Ngoài ra, trên phần đất tranh chấp, ông N1 còn xây dựng chuồng heo khoảng 200m², hai (02) căn nhà: 01 căn có kết cấu bằng gỗ lợp ngói có diện tích khoảng 25m² và 01 căn nhà trụ bê tông đúc sẵn lợp tole có diện tích khoảng 25m², căn nhà bếp có diện tích khoảng 50m², kết cấu bằng tường gạch song sắt, trụ bê tông, lợp mái tole. Nhà vệ sinh có diện tích khoảng 20m² tường gạch, lợp bằng mái tole, lót gạch men. Ông N1 có dựng mái che khoảng 60m² kết cấu trụ sắt, mái tole, nền bê tông đá 1x2. Đường đi nội bộ có diện tích khoảng 100m², lót gạch vĩa hè. Ông N1 có làm một hầm chứa bioga và 02 hồ nuôi cá giống có diện tích khoảng 40m². Ông N1 đã sửa chữa những phần sau: Căn nhà có diện tích 200m² sửa chữa nhà thờ lót gạch men có diện tích khoảng 50m²; nhà bếp cũ có diện tích khoảng 30m² lót gạch men, la phong, lợp mái tole. Trên phần đất

này có đất nghĩa địa có diện tích 50m² có hai ngôi mộ của mẹ ông N1 là bà Nguyễn Thị H2 và ba ông N1 là ông Nguyễn Văn M. Ông N1 làm hàng rào bằng trụ bê tông, móng xây gạch lốc, lưới rào bằng lưới B40 có diện tích khoảng 200m², ông N1 sử dụng sang lấp ao có diện tích 500m². Ngoài ra, ông N1 trồng một số cây trồng trên đất.

Ông Nguyễn Văn N1 đồng ý chia phần đất có diện tích là 8.033,1m² chia đều cho 08 người con. Hiện tại trên phần đất tranh chấp thì tại khu 3,4,5 vợ chồng Tôi đang quản lý sử dụng và có các công trình phụ nằm rải rác trên đất và trồng cây ăn trái như trên. Nay ông N1 xin nhận phần đất tại khu 3,4 và khu 5 Công ty TNHH T4 đo đạc lập ngày 20/7/2022 và hoàn lại giá trị bằng tiền cho các thừa kế khác.

Đối với phần đất tại khu I dùng làm lối đi chung ông N1 đồng ý, không có ý kiến.

* Tại biên bản định giá ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá UBND huyện C: Vẫn giữ nguyên kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá UBND huyện C. Theo thực tế diện tích đo vẽ bản đồ hiện trạng vị trí đất ngày 20/7/2022 của công ty TNHH T4 có diện tích là 8015,4 m², giảm so với diện tích thực tế so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, CH01221 do UBND huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23/11/2011, ông N1 không có ý kiến.

* Đối với chi phí tố tụng bà H đã tạm ứng nay bà H yêu cầu hoàn lại cho bà H, ông N1 đồng ý.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh T1 và bà Nguyễn Thị T cùng thống nhất trình bày:

Bà T1 và bà T thống nhất với bà H về huyết thống trong gia đình. Thửa đất số 40 nguồn gốc là của bà Nguyễn Thị H2 và ông Nguyễn Văn M. Ngày 03/09/2015, bà H2 có lập bản di chúc tại Văn phòng C2 (nay là Dương Thái H3) để lại Thửa đất số 40 cho 08 người con chung.

Bà T1 và bà T cũng thống nhất với trình bày của bà H và ông N1. Bà T1 và bà T chia di sản của cha và mẹ nhưng xin nhận giá trị bằng tiền vì hiện trạng đất không đủ để chia bằng hiện vật.

Bà T và bà T1: Thống nhất Tại biên bản định giá ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá UBND huyện C: Vẫn giữ nguyên kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá UBND huyện C. Theo thực tế diện tích đo vẽ bản đồ hiện trạng vị trí đất ngày 20/7/2022 của công ty TNHH T4 có diện tích là 8015,4 m², giảm so với diện tích thực tế so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, CH01221 do UBND huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23/11/2011, bà T và bà T1 không có ý kiến.

* Đối với phần đất tại khu 9 dùng làm lối đi chung, bà T và bà T1 đồng ý, không có ý kiến.

* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 có trình bày:

Bà H1 thống nhất với bà H về huyết thống trong gia đình. Thửa đất số 40 nguồn gốc là của bà Nguyễn Thị H2 và ông Nguyễn Văn M. Ngày 03/09/2015, bà H2 có lập bản di chúc tại Văn phòng C2 (nay là Dương Thái H3) để lại Thửa đất số 40 cho 08 người con chung.

Bà H1 xin nhận phần đất tại khu B, Theo thực tế diện tích đo vẽ bản đồ hiện trạng vị trí đất ngày 20/7/2022 của công ty TNHH T4 có diện tích là 8015,4 m²; đối với phần diện tích giảm so với diện tích thực tế so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, CH01221 do UBND huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23/11/2011, bà H1 không có ý kiến. Nếu phần bà H1 nhận chưa đủ theo di sản thừa kế, bà H1 xin được nhận tiếp phần di sản còn thiếu theo giá trị bằng tiền.

* Tại biên bản định giá ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá UBND huyện C: Vẫn giữ nguyên kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá UBND huyện C. Theo thực tế diện tích đo vẽ bản đồ hiện trạng vị trí đất ngày 20/7/2022 của công ty TNHH T4 có diện tích là 8015,4 m², giảm so với diện tích thực tế so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, CH01221 do UBND huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23/11/2011, bà H1 không có ý kiến.

* Đối với phần đất tại khu 9 dùng làm lối đi chung, bà H1 đồng ý, không có ý kiến.

* Đối với chi phí tố tụng bà H đã tạm ứng nay bà H yêu cầu hoàn lại cho bà H, bà H1 đồng ý.

* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N3 trình bày:

Bà N5 thống nhất với bà H về huyết thống trong gia đình. Thửa đất số 40 nguồn gốc là của bà Nguyễn Thị H2 và ông Nguyễn Văn M. Ngày 03/09/2015, bà H2 có lập bản di chúc tại Văn phòng C2 (nay là Dương Thái H3) để lại Thửa đất số 40 cho 08 người con chung.

- Bà Nguyệt đang quản lý sử dụng phần đất tại khu 1 nên bà xin cho bà tiếp tục quản lý sử dụng phần đất tại khu 1, nếu phần bà N5 được hưởng theo di sản của cha mẹ chết để lại bà xin nhận tiếp bằng tiền còn bà nhận dư cũng xin thối lại bằng tiền. Theo thực tế diện tích đo vẽ bản đồ hiện trạng vị trí đất ngày 20/7/2022 của công ty TNHH T4 có diện tích là 8015,4 m², giảm so với diện tích thực tế so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, CH01221 do UBND huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23/11/2011, bà N5 không có ý kiến.

* Tại biên bản định giá ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá UBND huyện C: Vẫn giữ nguyên kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá UBND huyện C.

* Đối với phần đất tại khu 9 dùng làm lối đi chung, bà N5 đồng ý, không có ý kiến.

* Đối với chi phí tố tụng bà H đã tạm ứng nay bà H yêu cầu hoàn lại cho bà H, bà N5 đồng ý.

* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị V trình bày:

Bà V thống nhất với bà H về huyết thống trong gia đình. Thửa đất số 40 nguồn gốc là của bà Nguyễn Thị H2 và ông Nguyễn Văn M. Ngày 03/09/2015, bà H2 có lập bản di chúc tại Văn phòng C2 (nay là Dương Thái H3) để lại Thửa đất số 40 cho 08 người con chung.

Bà V xin được nhận phần đất tại khu F vì hiện tại bà V có chồng và con nhưng chưa có nhà ở ổn định nên xin nhận phần đất tại khu F, nếu phần bà V được hưởng theo di sản của cha mẹ chết để lại bà xin nhận tiếp bằng tiền còn bà nhận dư cũng xin thối lại bằng tiền. Theo thực tế diện tích đo vẽ bản đồ hiện trạng vị trí đất ngày 20/7/2022 của công ty TNHH T4 có diện tích là 8015,4 m², giảm so với diện tích thực tế so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, CH01221 do UBND huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23/11/2011, bà V không có ý kiến.

* Tại biên bản định giá ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá UBND huyện C: Vẫn giữ nguyên kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá UBND huyện C.

* Đối với phần đất tại khu 9 dùng làm lối đi chung, bà V đồng ý, không có ý kiến.

* Đối với chi phí tố tụng bà H đã tạm ứng nay bà H yêu cầu hoàn lại cho bà H, bà V đồng ý.

* Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N2: Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn N2 có nộp bản tự khai ngày 22/4/2022 trình bày và sau khi ông N2 mất, vợ là bà Kiều Thị X, con là anh Nguyễn Minh K, con là chị Nguyễn Thị Kim X1 cũng không có bất kỳ văn bản nào trình bày thay thế ý kiến mà ông N2 đã trình bày cụ thể như sau:

- Một là, tôi mong muốn được giữ lại nguyên trạng di sản thừa kế là căn nhà ba gian của mẹ tôi - bà Nguyễn Thị H2.

- Hai là, tôi đồng ý phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của mẹ tôi theo di chúc được lập tại Văn phòng công chứng huyện C2, Thành phố Hồ Chí Minh số 018120, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03 tháng 09 năm 2015 cho 08 người con.

- Ba là, tôi có một căn nhà riêng, thời điểm tạo lập năm 1992, do tôi và vợ là bà Kiều Thị X xây dựng trên phần đất của mẹ tôi - bà Nguyễn Thị H2. Hiện tôi đang sinh sống cùng vợ và hai con là Nguyễn Minh K sinh năm 1992 và Nguyễn Thị Kim X1 sinh năm 1995. Tính đến nay tôi có xây dựng mới căn nhà và một số công trình phụ liên quan chi tiết như sau:

  1. Năm 2008:
    • Xây dựng mới căn nhà cấp bốn tường gạch mái tôn, diện tích sàn 180m², tổng chi phí xây dựng ước tính 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng (chưa bao gồm phần mái che diện tích 50m²)
    • Cải tạo và xây dựng ao nuôi cá diện tích 600m², chi phí xây dựng 30.000.000đồng.
  2. Năm 2011: Xây hàng rào, móng, gạch ống, trụ bê tông, lưới B40 diện tích 100 mét chi phí xây dựng 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng
  3. Năm 2021:
    • Xây cầu bê tông, xây cổng nhà khung thép ốp gạch, chi phí 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
    • Làm mái che diện tích 100m2, chi phí xây dựng 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng.
    • Xây dựng 02 chuồng gà tổng diện tích 50m², chi phí xây dựng 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng.

Tổng chi phí xây dựng ước tính: 965.000.000 (chín trăm sáu mươi lăm triệu). Tổng diện tích đất xây dựng ước tính 1500m² (đã bao gồm ao nuôi cá 600m²)

Tất cả các công trình xây dựng nêu trên là do tôi và vợ là bà Kiều Thị X cùng xây dựng, không liên quan đến di sản thừa kế mà mẹ tôi - bà Nguyễn Thị H2 để lại. Các anh chị em chúng tôi đều không tranh chấp đối với căn nhà và các công trình phụ nêu trên. Tôi mong muốn được giữ lại căn nhà đang ở cùng các công trình phụ này trên phần diện tích đất thừa kế ước tính 1.000 m². Phần diện tích đất trên sau khi tiến hành đo đạc, phân chia nếu thiếu thì sẽ bù thêm

cho gia đình tôi, ngược lại thì hoàn bằng hiện vật hoặc quy bằng tiền cho những người thừa kế còn lại trừ khi có thỏa thuận khác.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng C1 trình bày tại bản tự khai và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Lúc 9 giờ 00 phút ngày 03/09/2015, bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1938, CMND số [...], cấp tại CA. TP H, thường trú: tổ G, ấp M, xã P, huyện C, TP . đã đến trụ sở Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1) để yêu cầu Công chứng viên Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1) công chứng di chúc, với nội dung sau khi bà Nguyễn Thị H2 qua đời, bà Nguyễn Thị H2 để lại toàn bộ quyền sử dụng đất diện tích 8083,1 m² tại thửa đất số 40, tờ bản đồ số 38, xã P, huyện C, TP . (tài sản do nhận thừa kế) cho các ông, bà Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn N2, Nguyễn Thị N3, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị Thanh T1, số công chứng 018120 ngày 03/09/2015.

Do bà Nguyễn Thị H2 không đọc được, không viết được, không ký, điểm chỉ được nên bà H2 có mời hai người làm chứng là ông Trần Anh K1, CMND số [...], cấp tại CA. tỉnh Tây Ninh và bà Trần Nguyễn Ngọc G, CMND số [...], cấp tại CA.tỉnh Vĩnh Long.

Tại thời điểm công chứng di chúc, bà H2 xuất trình đầy đủ giấy tờ pháp lý, đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn minh mẫn sáng suốt, tự nguyện tuyên bố nội dung di chúc.Ông K1, bà G xuất trình đầy đủ giấy tờ pháp lý và đủ điều kiện làm chứng việc lập di chúc của bà H2. Bà Huỳnh Ngọc T2, Công chứng viên Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C1) đã đọc lại toàn bộ nội dung bản di chúc trên cho bà H2 nghe, bà H2 nhìn nhận bản di chúc ghi chính xác, đúng ý nguyện của bà đã tuyên bố và đồng ý điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt Công chứng viên. Hai người làm chứng là ông K1 và bà G đã chứng kiến bà H2 trong trạng thái tinh thần minh mẫn, sáng suốt đã tự nguyện tuyên bố nội dung di chúc, được Công chứng viên đọc lại toàn bộ nội dung di chúc, bà H2 đã đồng ý và điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt Công chứng viên. Hai người làm chứng là ông K1 và bà G cùng ký tên và điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt Công chứng viên. Công chứng viên Huỳnh Ngọc T2 đã chứng nhận bản di chúc đúng theo trình tự, thủ tục luật định.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban Nhân dân huyện C có ông Nguyễn Thanh P2 là đại diện ủy quyền có đơn xin vắng mặt:

Tôi được Ủy ban nhân dân huyện C cho tôi tham dự phiên tòa trong vụ án "Tranh chấp chia di sản thừa kế" giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H và bị đơn là ông Nguyễn Văn N1.

Với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Nay tôi trình bày ý kiến của tôi như sau:

Liên quan đến vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế nêu trên. Với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Tôi đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Tòa án nhân dân các cấp xem xét, giải quyết vụ án nêu trên theo đúng quy định của pháp luật.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng nội dung quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015: Vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền; việc Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định; thời hạn gửi Thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát cùng cấp đúng quy định; thời hạn gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định; thời hạn gửi hồ sơ còn chưa đúng quy định; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng thời gian, địa điểm được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định, việc tham gia hỏi tại phiên tòa đúng quy định; đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 652 Bộ luật dân sự năm 2005; các Điều 624, 630, 649, 650, 651, 658, 659, 660 Bộ luật dân sự năm 2015: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị H2 thành 08 phần bằng nhau, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn N1, ông Nguyễn Văn N2, bà Nguyễn Thị N3, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị Thanh T1 mỗi người được 01 kỷ phần, trong đó:

  • Bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị N3, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị V, mỗi người nhận di sản có giá trị 2.572.138.200 đồng;
  • Bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Thanh T1 mỗi người nhận di sản có giá trị 2.523.825.000 đồng.
  • Ông Nguyễn Văn N1, sau khi trừ các khoản bồi hoàn, nhận được di sản có giá trị 2.668.764.600 đồng.
  • Ông Nguyễn Văn N2, sau khi trừ các khoản bồi hoàn, nhận được di sản có giá trị 2.572.138.200 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Người đại diện uỷ quyền của bà H là bà Trần Thị Kim N xin vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kiều Thị X, cháu Nguyễn Thị Kim X1, bà Đặng Thị P, cháu Nguyễn Huỳnh N4, cháu Nguyễn Gia P1, cháu Hồ Chí C, cháu Hồ Nguyễn Bảo A, cháu Nguyễn Minh K vắng mặt mặc dù đã được Toà án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên hòa giải, thông báo kết quả mở phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Toà, thông báo mở lại phiên toà và giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bà Kiều Thị X, cháu Nguyễn Thị Kim X1, bà Đặng Thị P, cháu Nguyễn Huỳnh N4, cháu Nguyễn Gia P1, cháu Hồ Chí C, cháu H4 Nguyễn Bảo A, cháu Nguyễn Minh K đã không đến Tòa án để tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải, xét xử và trình bày ý kiến cũng như không bổ sung thêm tài liệu chứng cứ gì khác nên Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà Kiều Thị X, cháu Nguyễn Thị Kim X1, bà Đặng Thị P, cháu Nguyễn Huỳnh N4, cháu Nguyễn Gia P1, cháu Hồ Chí C, cháu Hồ Nguyễn Bảo A, cháu Nguyễn Minh K là phù hợp với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị H2 là Thửa đất số 40. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về thừa kế tài sản” quy định tại khoản 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Thửa đất 40 các đương sự tranh chấp tọa lạc tại xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu của các đương sự:

[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện xác định người thừa kế theo pháp luật và yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn:

Xét thấy bà Nguyễn Thị H2 (chết ngày 05/6/2020) và ông Nguyễn Văn M (chết ngày 23/11/2008) là vợ chồng, chung sống có tất cả 08 người con gồm: bà Nguyễn Thị H; bà Nguyễn Thị H1; bà Nguyễn Thị N3; ông Nguyễn Văn N2 (chết năm 2023) người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N2 là bà Kiều Thị X, cháu Nguyễn Minh K và cháu Nguyễn Thị Kim X1; ông Nguyễn Văn N1; bà Nguyễn Thị T; bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị Thanh T1.

Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của Bà Nguyễn Thị H2 và ông Nguyễn Văn M gồm có: bà Nguyễn Thị H; bà Nguyễn Thị H1; bà Nguyễn Thị N3; ông Nguyễn Văn N2 (chết năm 2023) người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N2 là bà Kiều Thị X, cháu Nguyễn Minh K và cháu Nguyễn Thị Kim X1; ông Nguyễn Văn N1; bà Nguyễn Thị T; bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị Thanh T1.

[3.2] Xét về di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị H2 chết để lại:

Ông M và bà H2 là vợ chồng trong thời ký hôn nhân có tạo lập tài sản chung gồm: Phần đất diện tích 8015,4 m², thửa đất số 40, tờ bản đồ số 38, bộ địa chính xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 582979, số vào sổ cấp giấy GCN: CH01221 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23 tháng 11 năm 2011 (theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022). Ông M chết không để lại di chúc hay giấy tờ phân chia tài sản đối với Thửa đất số 40. Trước khi bà H2 chết, ngày 03/9/2015, bà H2 lập di chúc tại Văn phòng C2, để lại toàn bộ quyền sử dụng đất Thửa số 40 cho 08 (tám) người con. Đây là các tình tiết sự kiện không cần chứng minh quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do đó, có cơ sở xác định phần diện tích 8015,4 m² này là di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị H2 chết để lại, chưa được phân chia. Nay bà Nguyễn Thị H yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật là có căn cứ theo quy định tại các Điều 612, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự 2015.

[4] Bị đơn ông Nguyễn Văn N1 trình bày, vợ chồng ông N1 sống chung với cha mẹ, trong quá trình chung sống trên Thửa đất số 40 ông N1 có xây dựng các công trình phụ trên đất như sau: Chuồng heo khoảng 200m²; 02 (hai) căn nhà: 01 căn có kết cấu bằng gỗ lợp ngói có diện tích khoảng 25m² và 01 căn nhà trụ bê tông đúc sẵn lợp tole có diện tích khoảng 25m², căn nhà bếp có diện tích khoảng 50m², kết cấu bằng tường gạch song sắt, trụ bê tông, lợp mái tole; nhà vệ sinh có diện tích khoảng 20m² tường gạch, lợp bằng mái tole, lót gạch men; mái che khoảng 60m² kết cấu trụ sắt, mái tole, nền bê tông đá 1x2; đường đi nội bộ có diện tích khoảng 100m², lót gạch vỉa hè; một hầm chứa bioga; 02 hồ nuôi cá giống có diện tích khoảng 40m². Ngoài ra, ông N1 đã sửa chữa căn nhà căn nhà thờ ba gian, lót gạch men có diện tích khoảng 50m²; nhà bếp cũ có diện tích khoảng 30m² lót gạch men, la phong, lợp mái tole. Những người thừa kế khác cũng thống nhất việc ông N1 xây dựng, tôn tạo, sửa chữa trên Thửa đất số 40 như ông N1 trình bày (tại khu C, khu D và khu 5 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022) ông N1 đang quản lý sử dụng ổn định nên xin nhận đất và hoàn lại giá trị bằng tiền cho các thừa kế khác và được các đương sự khác cũng đồng ý với trình bày của ông N1. Hội đồng xét xử xét thấy sự thoả thuận của các đương sự là phù hợp nên ghi nhận.

[5] Bà Nguyễn Thị N3 trình bày, khi cha mẹ còn sống có cho bà phần đất tại khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022. Bà N5 xây nhà và các công trình trên đất nên bà N5 muốn xin tiếp tục được sử dụng quản lý phần đất tại khu A, nếu phần đất tại Khu 1 lớn hơn giá trị mà bà N5 được thừa hưởng di sản thì bà N5 sẽ hoàn lại giá trị cho các đồng thừa kế khác, còn nếu giá trị bà N5 được hưởng nhỏ hơn giá trị mà bà N5 được thừa hưởng di sản thì bà N5 sẽ xin được nhận thêm, xét thấy phần trình bày của bà N5 được các đồng thừa kế khác đồng ý, đồng thời để tạo sự ổn định về chỗ ở cho bà N5 nên yêu cầu của bà N5 là phù hợp nên chấp nhận.

[6] Bà Nguyễn Thị H1 trình bày, khi cha mẹ còn sống có cho bà H1 phần đất tại khu 2 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022. Bà H1 xin được nhận phần đất khu 2 này, nếu phần đất tại Khu 2 lớn hơn giá trị mà bà H1 được thừa hưởng di sản thì bà H1 sẽ hoàn lại giá trị cho các đồng thừa kế khác, còn nếu giá trị bà H1 được hưởng nhỏ hơn giá trị mà bà H1 được thừa hưởng di sản thì bà H1 sẽ xin được nhận thêm, tại phiên toà các đồng thừa kế khác không có ý kiến và đồng ý với yêu cầu của bà H1, xét thấy sự thống nhất của các đồng thừa kế đồng ý phân chia cho bà H1 phần đất tại khu 2 là phù hợp nên ghi nhận.

[7] Bà Nguyễn Thị V trình bày, bà V có chồng và hai con đang có hoàn cảnh khó khăn về chỗ ở nên khi cha mẹ còn sống bà V có xin phần đất tại khu 6 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022 để cất nhà để ở. Tại phiên toà các đồng thừa kế khác thống nhất lời trình bày của bà V và đề nghị toà án chấp nhận yêu cầu của bà V nếu phần đất tại Khu 6 lớn hơn giá trị mà bà V được thừa hưởng di sản thì bà sẽ hoàn lại giá trị cho các đồng thừa kế khác, còn nếu giá trị bà V được hưởng nhỏ hơn giá trị mà bà V được thừa hưởng di sản thì bà V sẽ xin được nhận thêm. Xét thấy yêu cầu của bà V là phù hợp nên ghi nhận.

[8] Xét thấy trong quá trình toà án hoà giải công khai chứng cứ ông N2 cũng khai phần đất tại khu G và khu 8 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022, ông được cha mẹ cho đất để cất nhà để ở và xây dựng căn nhà cấp 4 kiên cố, đào ao nuôi cá và trồng cây ăn trái. Đến năm 2023, ông N2 mất các con của ông N2 và vợ ông N2 không có bất kỳ văn bản trình bày bổ sung hay thay đổi gì so với phần trình bày của ông. Xét thấy các phần đất tại khu G và khu H hiện tại vợ và hai con của ông N2 đang quản lý và sử dụng ổn định trên phần này, xét thấy tại phiên toà các đồng thừa kế khác đồng ý để cho hàng thừa kế của ông N2 tiếp tục sinh sống, quản lý sử dụng khu đất tại khu G và khu H, nếu phần đất tại Khu G và khu 8 lớn hơn giá trị mà ông N2 được thừa hưởng di sản thì hàng thừa kế của ông N2 sẽ hoàn lại giá trị cho các đồng thừa kế khác, còn nếu giá trị ông N2 được hưởng nhỏ hơn giá trị mà ông N2 được thừa hưởng di sản thì ông N2 sẽ xin được nhận thêm. Xét thấy phần đất tại khu G và khu 8 vợ và các con của ông N2 đang quản lý sử dụng nên tiếp tục giao cho vợ và con của N2 tiếp tục quản lý sử dụng toàn bộ diện tích đất tại khu G và khu 8 là phù hợp.

[9] Tại phiên toà các đương sự thống nhất để phần đất tại khu 9 làm lối đi chung cho các thừa kế, xét thấy sự thoả thuận của các đương là phù hợp nên ghi nhận.

[10] Theo lời trình bày của các đương sự, bà H2 chết còn để lại di sản là căn nhà ba gian, tường gạch, lợp ngói với diện tích khoảng 200m². Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 thì bà T, ông N1, ông N2, bà N5, bà H1, bà H, bà V và bà T1 là người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà H2. Đối với căn nhà này, bà H2 chết không để lại di chúc. Ông N1 cho biết đã sửa chữa căn nhà trên nhưng ông N1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình, ông yêu cầu được chia căn nhà và sẽ hoàn lại giá trị nhà cho các anh chị em khác. Nguyên đơn bà H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà T, ông N2, bà N5, bà H1, bà H, bà V và bà T1 sẽ lấy tiền tương đương với tài sản được nhận, giao lại căn nhà trên cho ông N1 quản lý, sử dụng. Do đó, việc chia di sản của bà H2 là căn nhà nêu trên thành 08 phần bằng nhau là có cơ sở chấp nhận.

Theo Biên bản định giá tài sản, căn nhà có vị trí số (4) và (8) với diện tích là 143,3m² + 54,3m²= 197,6m² x 3.260.000đồng/m2 x 60% = 386.505.600 đồng/8 = 48.313.200đồng. Do đó, mỗi người sẽ nhận được 1/8 giá trị là 48.313.200 đồng, do ông N1 bồi hoàn. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Thanh T1 xin nhường phần di sản này cho ông N1. Do đó, ông N1 sẽ bồi hoàn lại giá trị căn nhà cho bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn N2, bà Nguyễn Thị N3, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị V, mỗi người 48.313.200 đồng (1).

[11] Phân chia đều di sản thừa kế là quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H2 theo Bản di chúc được lập tại Văn phòng công chứng huyện C2, thành phố Hồ Chí Minh, số công chứng 018120, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03 tháng 9 năm 2015 cho 08 người con, mỗi người con được nhận 01 phần. Trong trường hợp di sản là căn nhà và quyền sử dụng đất của Mẹ tôi không thể chia được bằng hiện vật thì yêu cầu tòa án chia bằng tiền theo giá bán của thị trường hoặc căn cứ theo chứng thư thẩm định giá do Tòa án trưng cầu giám định tại thời điểm giải quyết vụ án. Các đương sự thống theo biên bản định giá tài sản ngày 23/8/2022 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân huyện C, không yêu cầu định giá lại, cụ thể:

  • Đất ở, diện tích 299,1m² x 5.000.000đ/m² = 1.495.500.000 đồng.
  • Đất trồng cây lâu năm: 965,6m² x 3.000.000đ/m² = 2.896.800.000 đồng.
  • Đất trồng cây hàng năm khác: 6.368,6m² x 2.500.000đ/m² = 15.921.500.000 đồng.
  • Đất nuôi trồng thủy sản: 449,8m² x 1.000.000 đ/m² = 449.800.000 đồng.

Tuy nhiên, Theo bản đồ vị trí hiện trạng, thì thửa đất do bà H2 để lại có diện tích 8.015,4m² nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại phiên tòa, sau khi trừ lối đi chung tại khu I (135m²) và trừ diện tích mộ tại vị trí số 1 là 26.3m², nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận thống nhất tổng giá trị di sản mà bà H2 để lại là 20.190.600.000 đồng, như vậy, mỗi người con sẽ nhận được giá trị 2.523.825.000 đồng (2).

Nguyên đơn và bị đơn thống nhất chia tài sản theo bản đồ hiện trạng vị trí chia theo các khu như sau:

  • B nhận khu 1, có giá trị 2.268.750.000 đồng, trong đó, đất ở 84m² x 5.000.000 đ/m² = 420.000.000 đồng; đất trồng cây hàng năm 739,5m² x 2.500.000 đ/m² = 1.848.750.000 đồng. Bà N5 còn thiếu 255.075.000 đồng.
  • Bà H1 nhận khu 2, là đất trồng cây hàng năm, có giá trị: 513,4m² x 2.500.000 đ/m² = 1.283.500.000 đồng. Bà H1 còn thiếu 1.240.325.000 đồng.
  • Ông N1 nhận khu 3, khu D, khu 5 với tổng giá trị là 8.963.250.000 đồng, trong đó:
    • Khu 3: Đất ở: 215,1m² x 5.000.000 đ/m² = 1.075.500.000 đồng.
    • Khu 3: Đất trồng cây hàng năm: 805,2m² x 2.500.000 đ/m2 = 2.013.000.000 đồng.
    • Khu 4: Đất trồng cây hàng năm: 679,1m² x 2.500.000 đ/m2 = 1.697.750.000 đồng.
    • Khu 5: Đất trồng cây hàng năm: 1.670,8m² x 2.500.000 đ/m² = 4.177.000.000 đồng.
  • Bà V nhận khu 6 là đất trồng cây hàng năm, có giá trị: 1.046,3m² x 2.500.000 đ/m² = 2.615.750.000 đồng.
  • Ông N2 nhận khu 7 và khu 8 với tổng giá trị là 5.059.350.000 đồng, trong đó:
    • Khu 7: Đất trồng cây lâu năm: 965,6m² x 3.000.000 đ/m² = 2.896.800.000 đồng
  • Khu 7: Đất trồng cây hàng năm: 83,9m² x 2.500.000 đ/m² = 209.750.000 đồng.
  • Khu 8: Đất nuôi trồng thủy sản: 449,8m² x 1.000.000 đ/m² = 449.800.000 đồng.
  • Khu 8: Đất trồng cây hàng năm: 601,2m² x 2.500.000 đ/m2 = 1.503.000.000 đồng.

Do mỗi người con sẽ nhận được giá trị 2.523.825.000 đồng, nên ông N1 phải bồi hoàn lại số tiền 6.439.425.000 đồng, ông N2 phải bồi hoàn lại số tiền 2.535.525.000 đồng, bà V phải bồi hoàn số tiền 91.925.000 đồng.

Như vậy,

  • Bà T1 nhận giá trị bồi hoàn là số tiền 2.146.475.000 đồng từ ông N1 và 377.350.000 đồng từ ông N2.
  • Bà T nhận giá trị bồi hoàn là số tiền 2.146.475.000 đồng từ ông N1 và 377.350.000 đồng từ ông N2.
  • Bà H nhận giá trị bồi hoàn là số tiền 2.146.475.000 đồng từ ông N1 và 377.350.000 đồng từ ông N2.
  • Bà H1 nhận 1.240.325.000 đồng từ ông N2.
  • Bà N5 nhận 163.150.000 đồng từ ông N2 và số tiền 91.925.000 đồng từ bà V.

*Như vậy, tổng số tiền mà mỗi người nhận bồi hoàn tại (1) và (2) là:

  • Bà H nhận giá trị bồi hoàn là số tiền 2.194.788.200 đồng từ ông Nguyễn Văn N1 và 377.350.000 đồng từ người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông N2.
  • Bà T nhận giá trị bồi hoàn là số tiền 2.146.475.000 đồng từ ông N1 và 377.350.000 đồng từ người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông N2.
  • Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông N2 nhận 48.313.200 đồng từ ông N1.
  • Bà N5 nhận 163.150.000 đồng từ người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông N2, số tiền 91.925.000 đồng từ bà V và 48.313.200 đồng từ ông N1.
  • Bà H1 nhận 1.240.325.000 đồng từ người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông N2 và 48.313.200 đồng từ ông N1.
  • Bà Nguyễn Thị V nhận 48.313.200 đồng từ ông Nguyễn Văn N1.
  • Bà T1 nhận giá trị bồi hoàn là số tiền 2.146.475.000 đồng từ ông N1 và 377.350.000 đồng từ người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông N2.

[12} Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc ông N1, tháo dỡ các công trình phụ xây dựng trái phép trên đất đang tranh chấp yêu cầu chia thừa kế, khôi phục lại tình trạng ban đầu để giao trả đất cho những người được thừa kế và hoàn trả đầy đủ hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác các công trình phụ trên đất cho các đồng thừa kế theo đúng quy định pháp luật. Tổng hoa lợi, lợi tức yêu cầu hoàn trả được tinh trên số tiền thực tế tại chứng cứ do ông N1 đề nghị bồi thường gồm: Tổng số cây trồng đang cho trái hàng năm, lợi nhuận thu được từ 02 hồ nuôi cá giống, ao cá thịt, các lứa heo nuôi hàng năm... nhân cho tổng số năm mà ông N1 đã chiếm giữ khai thác (kể từ thời điểm ghi trên chứng tử ông N1 đầu tư, xây dựng, nuôi trồng) chia điều cho các đồng thừa kế. Đồng thời, yêu cầu ông N1 chấm dứt hành vi vi phạm cơi nới, xây dựng trái phép trên đất chia thừa kế (theo di chúc của bà H2): Nguyên đơn không cung cấp được cái tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu này, do đó, không có căn cứ chấp nhận.

[13] Đối với yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bà X phải khôi phục tình trạng ban đầu, tháo dỡ các công trình phụ đã xây dựng trên đất đang tranh chấp yêu cầu chia thừa kế để giao trả đất cho những người được thừa kế theo di chúc của bà H2; hoàn trả lại toàn bộ hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác, sử dụng các công trình phụ trên đất cho những người được quyền hưởng thừa kế theo quy định pháp luật. Tổng hoa lợi, lợi tức yêu cầu hoàn trả được tính trên số tiền thực tế tại chứng cứ do bà X đề nghị bồi thường gồm: tổng số cây trồng đang cho trái hàng năm, lợi nhuận thu được từ ao cá thịt, heo, gà nuôi hàng năm... nhân cho số năm mà bà X đã chiếm giữ khai thác (kể từ thời điểm bà X đầu tư, xây dựng, nuôi trồng): Nguyên đơn không cung cấp được cái tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu này, do đó, không có căn cứ chấp nhận.

[14] Xét thấy: Ông Nguyễn Văn N1 và bà Đặng Thị P, cháu Nguyễn Huỳnh N4, cháu Nguyễn Gia P1 hiện nay đang sinh sống ổn định trên thửa đất tại khu C, khu 4 và khu 5 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 bả`n đồ Hoàng T3 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022 nên giao cho ông Nguyễn Văn N1 và bà Đặng Thị P, cháu Nguyễn Huỳnh N4, cháu Nguyễn Gia P1 toàn quyền quản lý, sử dụng căn nhà và các công trình kiến trúc thửa đất tại khu 3, khu 4 và khu 5 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022 trên đất là phù hợp, có lợi cho gia đình ông N1 và ông N1 hoàn lại giá trị bằng tiền cho các thừa kế khác là phù hợp nên ghi nhận.

[15] Ông Nguyễn Văn N2 (đã mất) người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N2 là bà Kiều Thị X, con là Nguyễn Minh K và Nguyễn Thị Kim X1 hiện nay đang sinh sống ổn định trên thửa đất tại khu G, khu 8 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022 nên giao cho vợ và con của ông Nguyễn Văn N2 toàn quyền quản lý, sử dụng căn nhà và các công trình kiến trúc thửa đất khu 7 và khu 8 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022 trên đất là phù hợp, có lợi cho gia đình ông N2 và gia đình ông N2 phải hoàn lại giá trị bằng tiền cho các thừa kế khác là phù hợp nên ghi nhận.

[16] Về chi phí tố tụng gồm: Bà H đã nộp chi phí gồm đo vẽ hiện trạng đất vị trí đất, thẩm định tại chỗ và chi phí thẩm định giá là 30.000.000đồng chia đều cho các anh chị em là 3.750.000đồng. Hội đồng xét xử xét thấy bà H đã tạm ứng các chi phí tố tụng nêu trên có các chứng từ hợp lệ nên cần buộc ông N1, bà T, bà T1, bà V, bà H1, bà N5 và gia đình ông N2 mỗi người phải chịu số tiền là 3.750.000đồng hoàn lại cho bà Nguyễn Thị H là phù hợp nên ghi nhận.

[17] Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • Bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị H1 là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí.
  • Ông Nguyễn Văn N1 phải chịu án phí 85.375.292 đồng.
  • Bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị N3 mỗi người phải chịu 83.442.764đồng.
  • Bà Nguyễn Thị Thanh T1, bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí 82.476.500đồng.
  • Bà Kiều Thị X, anh Nguyễn Minh K, chị Nguyễn Thị Kim X1 cùng phải chịu 83.442.764đồng.

[18] Xét phát biểu Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 3, Khoản 5 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a, Điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 58, Điều 68, Điều 146, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 227, Khoản 2 Điều 244, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 609, 612, 613, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31, Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.

2. Xác định người thừa kế theo pháp luật của bà Nguyễn Thị H2, chết ngày 05/6/2020 và ông Nguyễn Văn M, chết ngày 23 tháng 11 năm 2008 gồm có: bà Nguyễn Thị H; bà Nguyễn Thị H1; bà Nguyễn Thị N3; ông Nguyễn Văn N2 (chết năm 2023) người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông N2 là bà Kiều Thị X, cháu Nguyễn Minh K và cháu Nguyễn Thị Kim X1; ông Nguyễn Văn N1; bà Nguyễn Thị T; bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị Thanh T1.

3. Công nhận di sản thừa kế theo pháp luật của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị H2 chết để lại là:

Phần đất diện tích 8015,4 m², thửa đất số 40, tờ bản đồ số 38, bộ địa chính xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 582979, số vào sổ cấp giấy GCN: CH01221 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23 tháng 11 năm 2011 (theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022) là di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị H2 và ông Nguyễn Văn M.

4. Chia di sản thừa kế theo pháp luật của bà Nguyễn Thị H2 đối với diện tích đất nêu trên như sau:

  1. Bà Nguyễn Thị H nhận giá trị bồi hoàn là số tiền 2.194.788.200 đồng từ ông Nguyễn Văn N1 và 377.350.000 đồng từ người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông N2 là bà Kiều Thị X, anh Nguyễn Minh K và chị Nguyễn Thị Kim X1.
  2. Bà Nguyễn Thị T nhận giá trị bồi hoàn là số tiền 2.146.475.000 đồng từ ông Nguyễn Văn N1 và 377.350.000 đồng từ người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông N2 là bà Kiều Thị X, anh Nguyễn Minh K và chị Nguyễn Thị Kim X1.
  3. Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông N2 gồm bà Kiều Thị X, anh Nguyễn Minh K và chị Nguyễn Thị Kim X1 nhận 48.313.200 đồng từ ông Nguyễn Văn N1.
  4. Bà Nguyễn Thị N3 nhận 163.150.000 đồng từ người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông N2 là bà Kiều Thị X, anh Nguyễn Minh K, chị Nguyễn Thị Kim X1 và số tiền 91.925.000 đồng từ bà Nguyễn Thị V và 48.313.200 đồng từ ông Nguyễn Văn N1.
  5. Bà Nguyễn Thị H1 nhận 1.240.325.000đồng từ người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông N2 là bà Kiều Thị X, anh Nguyễn Minh K, chị Nguyễn Thị Kim X1 và 48.313.200 đồng từ ông Nguyễn Văn N1.
  6. Bà Nguyễn Thị V nhận 48.313.200 đồng từ ông Nguyễn Văn N1.
  7. Bà Nguyễn Thị Thanh T1 nhận giá trị bồi hoàn là số tiền 2.146.475.000 đồng từ ông Nguyễn Văn N1 và 377.350.000 đồng từ người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông N2 là bà Kiều Thị X, anh Nguyễn Minh K và chị Nguyễn Thị Kim X1.
  8. Bà Nguyễn Thị N3 được thừa hưởng diện tích 823.5 m² (tại khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 582979, số vào sổ cấp giấy GCN: CH01221 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23 tháng 11 năm 2011.
  9. Bà Nguyễn Thị H1 được thừa hưởng diện tích 513,4 m² (tại khu 2 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 582979, số vào sổ cấp giấy GCN: CH01221 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23 tháng 11 năm 2011.
  10. Bà Nguyễn Thị V được thừa hưởng diện tích 1046.3 m² (tại khu 6 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 582979, số vào sổ cấp giấy GCN: CH01221 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23 tháng 11 năm 2011.
  11. Giao cho ông Nguyễn Văn N1 và bà Đặng Thị P, chị Nguyễn Huỳnh N4, anh Nguyễn Gia P1 được toàn quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 1020.3m² tại khu 3, diện tích 679.1m² tại khu 4 và diện tích 1697.1 m² tại khu 5 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 582979, số vào sổ cấp giấy GCN: CH01221 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23 tháng 11 năm 2011.
  12. Giao cho bà Kiều Thị X, anh Nguyễn Minh K, chị Nguyễn Thị Kim X1 được toàn quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 1049.5m² tại khu 7 và diện tích 1051m² tại khu 8 theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 582979, số vào sổ cấp giấy GCN: CH01221 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23 tháng 11 năm 2011.
  13. Ghi nhận phần đất khu 9, diện tích 135.2m² theo bản đồ hiện trạng vị trí đất số hợp đồng 827/HD-HT/2022 của Công ty TNHH MTV T4 lập ngày 20 tháng 7 năm 2022 đã được kiểm tra nội nghiệp ngày 29 tháng 7 năm 2022. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 582979, số vào sổ cấp giấy GCN: CH01221 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23 tháng 11 năm 2011 làm lối đi chung.
  14. Buộc ông Nguyễn Văn N1, bà Nguyễn Thị N3, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị Thanh T1 và bà Nguyễn Thị T phải hoàn lại số tiền chi phí tố tụng cho bà Nguyễn Thị H số tiền là 3.750.000đồng.
  15. Buộc bà Kiều Thị X, anh Nguyễn Minh K, chị Nguyễn Thị Kim X1 phải hoàn lại số tiền chi phí tố tụng cho bà Nguyễn Thị H số tiền là 3.750.000đồng.

5. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với:

  • Buộc ông N1, tháo dỡ các công trình phụ xây dựng trái phép trên đất đang tranh chấp yêu cầu chia thừa kế, khôi phục lại tình trạng ban đầu để giao trả đất cho những người được thừa kế và hoàn trả đầy đủ hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác các công trình phụ trên đất cho các đồng thừa kế theo đúng quy định pháp luật. Tổng hoa lợi, lợi tức yêu cầu hoàn trả được tinh trên số tiền thực tế tại chứng cứ do ông N1 đề nghị bồi thường gồm: Tổng số cây trồng đang cho trái hàng năm, lợi nhuận thu được từ 02 hồ nuôi cá giống, ao cá thịt, các lứa heo nuôi hàng năm... nhân cho tổng số năm mà ông N1 đã chiếm giữ khai thác (kể từ thời điểm ghi trên chứng tử ông N1 đầu tư, xây dựng, nuôi trồng) chia điều cho các đồng thừa kế. Đồng thời, yêu cầu ông N1 chấm dứt hành vi vi phạm cơi nới, xây dựng trái phép trên đất chia thừa kế (theo di chúc của bà H2).
  • Buộc bà X phải khôi phục tình trạng ban đầu, tháo dỡ các công trình phụ đã xây dựng trên đất đang tranh chấp yêu cầu chia thừa kế để giao trả đất cho những người được thừa kế theo di chúc của bà H2; hoàn trả lại toàn bộ hoa lợi, lợi tức thu được từ việc khai thác, sử dụng các công trình phụ trên đất cho những người được quyền hưởng thừa kế theo quy định pháp luật. Tổng hoa lợi, lợi tức yêu cầu hoàn trả được tính trên số tiền thực tế tại chứng cứ do bà X đề nghị bồi thường gồm: tổng số cây trồng đang cho trái hàng năm, lợi nhuận thu được từ ao cá thịt, heo, gà nuôi hàng năm... nhân cho số năm mà bà X đã chiếm giữ khai thác (kể từ thời điểm bà X đầu tư, xây dựng, nuôi trồng).

6. Buộc bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm giao cho cơ quan chức năng bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 582979, số vào sổ cấp giấy GCN: CH01221 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23 tháng 11 năm 2011 phần đất thuộc thửa 40, tờ bản đồ số 38, bộ địa chính xã P, huyện C để ông Nguyễn Văn N1, bà Nguyễn Thị N3, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị V và các thừa kế của ông N2 là anh Nguyễn Minh K, bà Kiều Thị X, chị Nguyễn Thị Kim X1 tiến hành thủ tục chuyển quyền sử dụng đất phần diện tích các đương sự được hưởng theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bà Nguyễn Thị H không giao cho cơ quan chức năng bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 582979, số vào sổ cấp giấy GCN: CH01221 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H2 ngày 23 tháng 11 năm 2011 phần đất thuộc thửa 40, tờ bản đồ số 38, bộ địa chính xã P, huyện C để ông Nguyễn Văn N1, bà Nguyễn Thị N3, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị V và các thừa kế của ông N2 là anh Nguyễn Minh K, bà Kiều Thị X, chị Nguyễn Thị Kim X1 tiến hành thủ tục chuyển quyền sử dụng đất phần diện tích các đương sự được hưởng theo quy định của pháp luật thì ông Nguyễn Văn N1, bà Nguyễn Thị N3, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị V và các thừa kế của ông N2 là anh Nguyễn Minh K, bà Kiều Thị X, chị Nguyễn Thị Kim X1 có quyền liên hệ cơ quan chức năng tiến hành thủ tục chuyển quyền sử dụng đất phần diện tích các đương sự được hưởng theo quy định của pháp luật.

7. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi Hành án của người được thi Hành án đối với khoản tiền được trả cho người được thi Hành án cho đến khi thi Hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi Hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi Hành án theo mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi Hành án.

Thi hành ngay khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

8. Án phí dân sự sơ thẩm:

  • Bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị H1 là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí.
  • Ông Nguyễn Văn N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 85.375.292 đồng.
  • Bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị N3 mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 83.442.764đồng.
  • Bà Nguyễn Thị Thanh T1, bà Nguyễn Thị T mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 82.476.500đồng.
  • Bà Kiều Thị X, anh Nguyễn Minh K, chị Nguyễn Thị Kim X1 cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 83.442.764đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

9. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • VKSND huyện Củ Chi;
  • Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • Các đương sự;
  • Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 503/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 503/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H - Nguyễn Văn N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger