|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 503/2024/HS-ST Ngày 18 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Anh Dũng
Ông Trần Công Danh
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 517/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 504/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Nơi cư trú: Số A, đường A, khu phố D, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1965 và bà Ngô Thị N, sinh năm 1967; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt quả tang theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 25/3/2024 và tạm giữ từ ngày 26/3/2024, sau đó chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 614/LTG – ĐTTH ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra giam Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: anh Trần Đức A, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ A, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1990 (có mặt)
Địa chỉ: A đường A, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 25/3/2024, Nguyễn Văn T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Winner lắp biển số giả 93H1-300.74 di chuyển từ hướng thành phố Hồ Chí Minh đến địa phận thành phố B với mục đích để cướp giật tài sản. Khi đi đến khu vực trước cửa hàng “B" thuộc tổ B, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì thấy anh Trần Đức A (sinh năm 1995, ngụ tại số B, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) đang điều khiển xe môtô biển số 60F2-693.57 chạy cùng chiều vượt lên, trên cổ anh Đức A có đeo 01 sợi dây chuyền vàng, T liền điều khiển xe môtô chạy lên áp sát phía bên phải xe của anh Đức A, sau đó dùng tay trái giật sợi dây chuyền trên của anh Đức A rồi nhanh chóng tăng ga xe bỏ chạy đến khu vực trước cổng trường Tiểu học B thuộc khu phố C, phường B, thành phố B thì bị ngã xe nên bị anh Đức A cùng với người dân và lực lượng bảo vệ dân phố bắt giữ, giao cho Công an phường B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra, khởi tố xử lý.
(Lời khai của bị cáo tại các bút lục số: 32-43);
(Lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại các bút lục số: 44-49, 50-54, 55-65);
Vật chứng vụ án gồm:
- 01 sợi dây chuyền vàng (loại vàng 16K), tạm giữ của bị cáo T, là tài sản của anh Trần Đức A bị cướp giật, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho người bị hại là anh Đức A; (Bút lục số: 99);
- 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Winner (số máy KC26E1081845; số khung RLHKC2600GY67938), tạm giữ của bị cáo T, là phương tiện bị cáo T sử dụng thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án. Kết quả xác minh thể hiện: chiếc xe này có biển số là 84B1-440.40 do anh Nguyễn Phước A1 (sinh năm 1988, ngụ ấp N, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh) đứng tên chủ sở hữu. Vào năm 2021, anh A1 đã cầm cố chiếc xe này nhưng không có tiền chuộc nên tiệm cầm đồ đã bán thanh lý. Bị cáo T khai nhận mua chiếc xe này trên mạng xã hội và không có giấy tờ mua bán; (Bút lục số: 61-65, 83).
- 01 bình xịt hơi cay hiệu Take Down (màu đen, dài 23cm) thu giữ trên xe của bị cáo T, là công cụ để nhằm mục đích sử dụng thực hiện hành vi phạm tội; (Bút lục số: 83);
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, tạm giữ của bị cáo T, là tài sản của bị cáo T không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bị cáo T; (Bút lục số: 84)
- 01 biển số xe 93H1-300.74, gắn trên xe môtô của bị cáo T sử dụng thực hiện tội phạm nêu trên, bị cáo khai do đặt mua trên mạng facebook (không nhớ cụ thể). Kết quả xác minh, biển số này trùng với biển số do bà Võ Thị S (sinh năm 1977, ngụ thôn C, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước) đăng ký sở hữu và hiện tại bà S vẫn sử dụng, không bị mất. (Bút lục số: 57, 59)
* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 88/KL-HĐĐGTS ngày 27/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 sợi dây chuyền vàng 16K trị giá là 18.000.000₫ (Mười tám triệu đồng)”. (Bút lục số: 94-98);
* Về dân sự: Bị hại là anh Trần Đức A yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường chi phí sửa chữa sợi dây chuyền bị đứt và các chi phí khác (tổn thất tinh thần, ngày công lao động do nghỉ để làm việc với Cơ quan điều tra) tổng số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Ngày 04/4/2024, anh Nguyễn Văn Q (sinh năm 1990, ngụ A, đường A, khu phố D, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh) là anh ruột của bị cáo T đã bồi thường cho anh Đức A đủ số tiền trên theo yêu cầu. Anh Đức A không có yêu cầu khác. (Bút lục: 100);
Tại bản Cáo trạng số: 501/CT-VKSBH ngày 27/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử về tội danh tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Về hình phạt đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên: tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu sơn đỏ - đen, biển số 84B1- 440.40, số máy KC26E1081945, số khung RLHKC2600GY67938; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bình xịt hơi cay hiệu Take Down màu cam - đen và 01 (một) biển số xe 93H1-300.74; Về án phí: buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Quá trình tranh tụng, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, hứa cải tạo trở thành người tốt và mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về hòa nhập cộng đồng làm lại từ đầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Người bị hại vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của người bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử do đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án và không yêu cầu gì thêm; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Do muốn có tiền tiêu xài nên vào khoảng 18 giờ 45 phút, ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại khu vực trước cửa hàng “B" thuộc tổ B, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn T đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner gắn biển số giả 93H1-300.74 cướp giật 01 sợi dây chuyền vàng (loại vàng 16K) của anh Trần Anh Đ. Tài sản cướp giật có trị giá là 18.000.000₫ (Mười tám triệu đồng).
Như vậy, có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Cướp giật tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, khá táo bạo, liều lĩnh và xem thường pháp luật; đã lợi dụng sự sơ hở của người khác để chiếm đoạt trái phép tài sản một cách công khai ngay trên đường phố, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu tiêu xài cá nhân nên cần phải xử bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, đã thực hiện nghĩa vụ quân sự, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[5] Về phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”; Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng và không có điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu sơn đỏ - đen, biển số 84B1-440.40, số máy KC26E1081945, số khung RLHKC2600GY67938; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bình xịt hơi cay hiệu Take Down màu cam - đen và 01 (một) biển số xe 93H1-300.74.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản và nhận tiền bồi thường các chi phí hợp lý là 5.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm. Tại đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 12/9/2024, bị hại Trần Anh Đ cũng không yêu cầu gì thêm. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản".
- Về hình phạt: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2024.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.
- - Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu sơn đỏ - đen, biển số 84B1-440.40, số máy KC26E1081945, số khung RLHKC2600GY67938;
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bình xịt hơi cay hiệu Take Down màu cam - đen và 01 (một) biển số xe 93H1-300.74.
(Các vật chứng trên đã được giao nhận theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa và Công an thành phố B).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Bảo |
Bản án số 503/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về cướp giật tài sản
- Số bản án: 503/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội cướp giật tài sản
