Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 503/2024/HNGĐ-ST

Ngày 12 - 12 - 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,

chia tài sản khi ly hôn, hợp đồng vay

tài sản, đòi lại tài sản là quyền sử

dụng đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Công Trọn.

Ông Nguyễn Việt Thắng.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nhân dân huyện

Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên

tòa: Bà Phạm Huỳnh Trang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 và 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện

Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ

lý số: 332/2023/TLST-HNGĐ ngày 12/5/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con, chia tài sản khi ly hôn, hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản là quyền sử dụng

đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày

23/02/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Huyền T, sinh năm 1996.

    Địa chỉ: Khóm G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Võ Thanh

    T1 – Thuộc đoàn Luật sư tỉnh C – Hành nghề tại Văn phòng L.

    Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

  2. Bị đơn: Anh Võ Văn P, sinh năm 1993.

    Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    Bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1970.

    Ông Võ Văn H, sinh năm1970.

    Cùng địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

    Bà Bùi Thị Kim V, sinh năm 1970.

    Địa chỉ: Khóm G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Tất cả có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 11/5/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày

05/6/2023, lời trình bày của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà, thể hiện:

Về hôn nhân: Vào năm 2015 chị T và anh P tự nguyện sống chung với nhau,

hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn Trần

Văn T2 (Giấy chứng nhận kết hôn số: 136/2015).

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Võ Gia D, sinh 15/12/2016 và

Võ Tuấn H1, sinh 12/10/2018 (các con hiện anh P đang nuôi dạy). Quá trình nuôi

dạy con chị T xác định anh P có đánh và la mắng con (vấn đề này chị T nghe các

con trình bày, chứ chị không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh).

Về tài sản chung: 01 phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 251,6 m² – đất

toạ lạc tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau có giá trị 192.222.400 đồng (do cha

mẹ chồng tặng cho); 01 căn nhà xây cất trên đất có giá trị 484.714.115 đồng; 01

sân gạch vỉa hè có giá trị 5.600.000 đồng (do cha mẹ ruột cho tiền san lắp mặt

bằng và xây cất); 01 giếng nước khoan có giá trị 20.000.000 đồng (Tất cả các tài

sản hiện nay anh P đang quản lý). Ngoài ra, vợ chồng còn có 09 chỉ vàng 24k (anh

P đang quản lý 02 chỉ vàng 24k, chị T quản lý 07 chỉ vàng 24k).

Về nợ chung: Nợ mẹ ruột bà Bùi Thị Kim V 10.000.000 đồng.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Chị T xác định do anh P ghen tuông, dẫn đến vợ

chồng thường xuyên cự cải, anh P có hành vi xúc phạm và đánh chị T, nên cuộc

sống vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.

Tại phiên toà, chị T thống nhất kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và

thẩm định giá, nhưng chị T cho rằng giá trị nhà và đất là cao so với giá thực tế,

thống nhất xác định lại giá trị căn nhà là 300.000.000 đồng, giá trị đất là

180.000.000 đồng; đối với phần cát lấp chị T thống nhất nằm trong giá trị đất.

Chị T yêu cầu ly hôn với anh P. Về con đồng ý giao cháu D cho anh P nuôi

dạy, yêu cầu được nuôi cháu H1, không bên nào phải cấp dưỡng cho con; trường

hợp Toà án giao cả 02 con chung cho anh P nuôi dạy, thì chị T tự nguyện cấp

dưỡng cho con mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng, cho đến khi nghĩa vụ cấp

dưỡng chấm dứt theo quy định của pháo luật. Về tài sản chung yêu cầu được chia

đôi giao cho anh P hiện vật nhà và đất, yêu cầu anh P hoàn lại giá trị 230.000.000

đồng; đối với sân gạch vỉa hè, giếng nước và 09 chỉ vàng 24k (Tự thoả thuận phân

chia: Anh P nhận sân gạch vỉa hè, giếng nước, vàng chia đôi mỗi người 4,5 chỉ

vàng 24k (chị T không phải hoàn lại vàng, anh P không phải hoàn lại giá trị)), xin

rút lại yêu cầu đối với các tài sản này. Về nợ chung không yêu cầu giải quyết. Chi

phí tố tụng yêu cầu chia đôi, buộc anh P hoàn trả lại ½.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, phát biểu ý

kiến tranh luận tại phiên toà:

Về hôn nhân: Chị T và anh P đã thống nhất ly hôn, nên đề nghị Toà án chấp

nhận cho ly hôn. Về con chung yêu cầu xem xét điều kiện thực tế của các bên, cân

nhắc giao cho chị T nuôi cháu H1 thì đảm bảo hơn trong việc nuôi dạy các cháu.

2

Về tài sản chung đối với nhà đất đề nghị xem xét chia đôi là có cơ sở, bởi tại biên

bản hoà giải ngày 01/6/2023 anh P thừa nhận đất cha mẹ cho cháu D, biên bản hoà

giải ngày 12/3/2024 anh P lại xác định là cho mượn, thực tế trên đất đã xây dựng

nhà kiên cố, nên có căn cứ đất là cho vợ chồng anh P xây cất nhà ở, chứ không

phải cho mượn; đối với sân gạch vỉa hè, giếng nước khoan, 09 chỉ vàng 24k các

bên đã thoả thuận, chị T tự nguyện rút lại yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp

nhận yêu cầu khởi kiện của chị T: Cho ly hôn, giao cháu H1 cho chị T nuôi, chia

cho chị T nhận giá trị tài sản nhà đất là 230.000.000 đồng; đình chỉ xét xử đối với

yêu cầu chia tài sản sân gạch vỉa hè, giếng nước khoan, 09 chỉ vàng 24k, án phí và

chi phí tố tụng đề nghị xem xét theo quy định.

- Lời trình bày của bị đơn có tại hồ sơ và tại phiên toà:

Thống nhất với lời trình bày của chị T về hôn nhân, về con chung là đúng.

Về tài sản chung: Có 01 căn nhà cấp xây cất trên đất cha mẹ ruột cho mượn

với diện tích theo diện tích nhà là 121,3 m² (căn nhà cha mẹ vợ cho tiền vật tư, vợ

chồng chịu tiên công thợ (nhà xây dựng năm 2016 có giá trị khoảng 400.000.000

đồng)); đối với phần sân lót gạch vỉa hè và đất khác có diện tích 130,3 m² là cho

mượn để làm lối đi; 01 sân gạch vỉa hè và 01 giếng nước khoan (có được do nguồn

tiền của vợ chồng) và 09 chỉ vàng 24k (anh P quản lý 02 chỉ vàng 24k, chị T quản

lý 07 chỉ vàng 24k).

Về nợ chung: Nợ bà Bùi Thị Kim V 10.000.000 đồng.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Anh P xác định do vợ chồng bất đồng quan điểm

sống, từ đó vợ chồng thuyên cự cải với nhau và anh P có đánh chị T 01 lần; sau đó

chị T bỏ nhà đi cho đến nay hơn 01 năm.

Tại phiên toà, anh P thống nhất kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và

thẩm định giá, nhưng anh P cũng xác định giá trị nhà và đất là cao so với giá thực

tế, thống nhất xác định lại giá trị căn nhà là 300.000.000 đồng, giá trị đất là

180.000.000 đồng (nhưng đất này là đất cha mẹ cho mượn).

Anh P đồng ý ly hôn với chị T. Về con yêu cầu nuôi 02 con chung, chị T tự

nguyện cấp dưỡng cho con thì anh đồng ý nhận để nuôi con. Về tài sản chung

không đồng ý theo yêu cầu chia tài sản đối với nhà và đất theo yêu cầu của chị T,

anh không thừa nhận nhà và đất là tài sản chung, đề nghị chị T tự tháo dỡ nhà trả

đất cho cha mẹ anh P; đối với sân gạch vỉa hè, giếng nước và 09 chỉ vàng 24k

(Thống nhất thoả thuận phân chia: Anh P nhận sân gạch vỉa hè, giếng nước, vàng

chia đôi mỗi người 4,5 chỉ vàng 24k (anh P không phải hoàn lại giá trị, chị T

không phải hoàn lại vàng)). Về nợ chung không yêu cầu giải quyết. Chi phí tố tụng

không đồng ý hoàn trả theo yêu cầu của chị T.

- Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 12/3/2024: Cháu D có nguyện vọng

được sống với anh P.

- Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 02/01/2024, lời trình bày của tại hồ sơ và

tại phiên toà của ông H và bà P1, thể hiện:

Nguồn gốc đất vợ chồng sang nhượng của ông Dương Văn N (hiện nay đã

bỏ địa phương đi, không biết ở đâu), đất khi sang nhượng cho đến nay chưa được

cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2016 vợ chồng có nói cho vợ chồng

anh P phần đất cất nhà, chứ không có nói cho luôn hay cho mượn (vì nghĩ các con

3

sống chung hạnh phúc mãi mãi về sau), nếu vợ chông anh P hạnh phúc thì có ý

định về sau sẽ tách quyền sử dụng đất riêng cho vợ chồng anh P, nhưng hiện nay

vợ chồng anh P mâu thuẫn không còn sống chung được, nên yêu cầu lấy lại đất.

Trường hợp vợ chồng anh P thống nhất giao nhà cho các con thì vợ chồng

đồng ý tiếp tục cho mượn đất, nếu không đồng ý thì yêu cầu Toà án buộc vợ chồng

anh P và chị T trả phần đất cho mượn có diện tích theo đo đạc thực tế 251,6 m²

(Trong đó: Diện tích đất cất nhà 121,3 m², diện tích đất làm lối đi là 130,3 m²).

- Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 02/01/2024, lời trình bày của tại hồ sơ và

tại phiên toà của bà V, thể hiện:

Bà V có cho vợ chồng anh P và chị T mượn số tiền 10.000.000 đồng, đến

nay chưa hoàn trả cho bà V.

Tại phiên toà bà V tự nguyện rút lại yêu cầu độc lập đối với số tiền nêu trên.

- Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu:

Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,

Thư ký phiên tòa và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý

cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tiến hành và thực hiện đúng

theo quy định.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu

khởi kiện của chị Nguyễn Huyền T. Cho chị Nguyễn Huyền T ly hôn với anh Võ

Văn P; giao cho anh Võ Văn P trực tiếp nuôi dạy Võ Gia D, sinh 15/12/2016 và Võ

Tuấn H1, sinh 12/10/2018, buộc chị Nguyễn Huyền T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng

cho các cháu mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng; Chia tài sản là quyền sử dụng

đất và tài sản gắn liền với đất có tổng giá trị 480.000.000 đồn anh Võ Văn P được

nhận hiện vật đối với toàn bộ tài sản, bao gồm: Quyền sử dụng đất có diện tích

251,6 m² và 01 căn nhà cấp 4 trên phần đất có diện tích 121,3 m², buộc anh Võ

Văn P có nghĩa vụ giao trả cho chị Nguyễn Huyền T tiền chênh lệch giá trị tài sản

là 230.000.000 đồng; Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn

Huyền T đối với các tài sản sân gạch vỉa hè, giếng nước khoan và 09 chỉ vàng 24k;

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của bà Bùi Thị Kim V đối với số tiền

10.000.000 đồng; Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Võ Văn H và bà

Nguyễn Thị P1 về việc đòi lại phần đất 251,6 m². Án phí và chi phí tố tụng các

đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét

tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải

quyết của Tòa án: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện bị đơn về việc yêu cầu

ly hôn, nuôi con, chia tài sản; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu

độc lập yêu cầu nguyên đơn, bị đơn trả tiền theo hợp đồng vay và trả đất cho

mượn. Xét thấy các đương sự và đất tranh chấp đều ở huyện T, tỉnh Cà Mau nên

Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự

4

“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, hợp đồng vay tài sản, đòi

lại tài sản là quyền sử dụng đất” là đúng theo quy định tại khoản 3, 9 Điều 26,

khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố

tụng dân sự (BLTTDS).

[2] Xét yêu cầu và ý kiến của đương sự:

[2.1] Tại phiên toà, chị T và anh P thống nhất tự thoả thuận phân chia

đối với sân gạch vỉa hè, giếng nước và 09 chỉ vàng 24k (Các bên thống nhất thoả

thuận phân chia: Anh P nhận sân gạch vỉa hè, giếng nước; đối với vàng chia đôi

mỗi người 4,5 chỉ vàng 24k (anh P không phải hoàn lại giá trị, chị T không phải

hoàn lại vàng)); chị T đã tự nguyện rút lại yêu cầu chia tài sản đối với các tài sản

này và bà V cũng tự nguyện rút lại yêu cầu độc lập đối với số tiền 10.000.000

đồng. Xét thấy việc rút 01 phần yêu cầu khởi kiện của chị T và rút yêu cầu độc lập

của bà V là hoàn toàn tự nguyện, nên căn cứ khoản 2 Điều 244 BLTTDS đình chỉ

xét xử đối với 01 phần yêu cầu khởi kiện của chị T và toàn bộ yêu cầu độc lập của

bà V là đúng.

[2.2] Về yêu cầu ly hôn:

[2.2.1] Mối quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh P được xác lập trên

tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên mối quan

hệ hôn nhân là hợp pháp.

[2.2.2] Xét thấy trong cuộc sống hôn nhân chị T và anh P không thực

hiện tốt việc bình đẳng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, mà lại làm cho mối quan

hệ hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể

kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc,

anh P thừa nhận có đánh chị T, các bên hiện nay đều cương quyết ly hôn với với

nhau. Nên có căn cứ xác định được chị T và anh P không còn quan tâm gì đối với

mối quan hệ hôn nhân này và giữa đôi bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và

nghĩa vụ của vợ chồng và anh P có hành vi bạo lực gia đình dẫn đến các hệ lụy nêu

trên, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân về sau thì sẽ không đảm bảo hạnh

phúc và trái với các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình hiện nay,

nên cần chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh P là phù hợp với Điều 51, Điều

56 Luật hôn nhân và gia đình (LHNGĐ) và khoản 1, 2, 3 Điều 4 Nghị quyết số:

01/2014/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp

luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình (Nghị quyết 01). Giấy chứng

nhận kết hôn số: 136/2015 ngày 31/12/2015 của UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh

Cà Mau hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

[3.2] Về con chung:

[3.2.1] Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau

khi ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy cháu D đã từ đủ 07 tuổi trở lên và nguyện

vọng của cháu là được sống với anh P, đối với cháu H1 sau khi không còn sống

chung thì anh P là người trực tiếp nuôi dạy cháu (các bên đều xác định điều kiện

sống và học tập của các cháu tốt), đồng thời anh P không thuộc trường hợp không

đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dạy con, do đó cần tiếp tục giao các cháu cho anh P

tiếp tục trực tiếp nuôi dạy là phù hợp với khoản 2 Điều 81 LHNGĐ. Chị T có

5

quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; chị T có nghĩa vụ tôn

trọng quyền của các con được sống với anh P; nếu chị T lạm dụng việc thăm nom

để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,

giáo dục các con thì anh P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con

theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 LHNGĐ; việc thay

đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp

luật.

[3.2.2] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Theo quy định của pháp

luật thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội

đồng xét xử xét thấy mức cấp dưỡng một tháng không được thấp hơn một nữa mức

lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng cư trú theo quy định khoản 2 Điều 7

Nghị quyết số: 01; căn cứ mục 3 phụ lục kèm theo và Điều 3 Nghị định số:

74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 về quy định mức lương tối thiểu đối với người lao

động làm việc theo hợp đồng lao động (Nghị định số: 74) thì mức lương tối thiểu

vùng tại huyện T nơi chị T cư trú là 3.860.000 đồng. Do đó, việc chị T tự nguyện

cấp dưỡng cho các con mỗi cháu mỗi tháng là 2.000.000 đồng là phù hợp, nên cần

ghi nhận và phương thức cấp dưỡng hàng tháng được tính kể từ ngày xét xử sơ

thẩm cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo định quy định là phù

hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117

LHNGĐ.

[3.3] Về tài sản chung và yêu cầu độc lập của ông H và bà P1: Đối với

căn nhà các bên đều thống nhất là do vợ chồng bà V cho tiền xây cất. Đối với khu

đất tranh chấp theo đo đạc thực tế là 251,6 m², chị T cho rằng cha mẹ chồng cho,

anh P và vợ chồng ông H xác định cho mượn cất nhà ở và dùng làm lối đi. Các bên

không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình

về vấn đề này. Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.3.1] Xét quá trình giải quyết vụ án anh P cũng có thừa nhận cha

mẹ cho đất xây dựng nhà, nhưng cho cháu D chứ không phải cho vợ chồng; tại

phiên toà vợ chồng ông H cũng xác định là có nói cho vợ chồng anh P phần đất cất

nhà, chứ không có nói cụ thể cho luôn hay cho mượn (trường hợp vợ chồng anh P

Hạnh phúc thì có ý định tách quyền sử dụng đất riêng cho vợ chồng anh P). Thực

tế, việc khởi công và xây cất căn nhà trên đất từ năm 2016 thì các bên vẫn thống

nhất không có ý kiến gì phản đối và cho đến trước thời điểm vợ chồng anh P xảy ra

mâu thuẫn thì cũng không ai đặt vấn đề đối với phần đất là cho mượn. Nhà xây

dựng trên đất thực tế theo hiện trạng là cơ bản và kiên cố có giá trị lớn, nếu thuộc

trường hợp đất cho mượn tạm thì các bên sẽ tính toán đề vấn đề trả đất sau này,

nên không lý gì lại cho xây dựng nhà công trình giá trị lớn như vậy. Do đó, có căn

cứ xác định toàn bộ khu đất tranh chấp 251,6 m² (Trong đó: Diện tích đất cất nhà

121,3 m², diện tích đất làm lối đi là 130,3 m²) là phần đất vợ chồng anh P và chị T

được vợ chồng ông H và bà P1 tặng cho trong thời kỳ hôn nhân, chứ không phải

đất cho mượn. Nên toàn bộ phần đất 251,6 m² được xác định là tài sản chung của

vợ chồng chị T và anh P.

6

[3.3.2] Đối với căn nhà được xác định là vợ chồng bà V cho tiền vợ

chồng anh P và chị T xây cất trong thời kỳ hôn nhân, nên cũng là tài sản chung của

vợ chồng chị T và anh P.

[3.3.3] Về giá tại phiên toà các bên đều thống nhất thoả thuận lại giá

đối với căn nhà là 300.000.000 đồng, đối với giá trị đất tranh chấp là 180.000.000

đồng. Xét thấy giá các bên tự thoả thuận là cao hơn giá nhà nước quy định và phù

hợp với thị trường, việc thoả thuận giữa các bên cũng không nhằm mục đích trốn

tránh nghĩa vụ, nên cần ghi nhận và áp dụng giá trị tài sản theo sự thoả thuận giữa

các bên để làm căn cứ giải quyết vụ án là phù hợp.

[3.3.4] Toàn bộ tài sản chung được xác định nêu trên chị T và anh P

được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân, nên quyền lợi đối với tài sản là ngang bằng

nhau, nên cần chia đôi là đúng, tổng giá trị tài sản là 480.000.000 đồng, nhưng chị

T tự nguyện chỉ yêu cầu 230.000.000 đồng, nên cần ghi nhận. Căn cứ Điều 33,

Điều 38, Điều 59, Điều 62 LHNGĐ chia tài sản chung giữa chị T và anh Phong

bao G quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nêu trên, giao cho anh P nhận

hiện vật là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nêu trên; buộc anh P có

nghĩa vụ trả lại giá trị tài sản cho chị T số tiền 230.000.000 đồng.

[3.3.5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu

độc lập của vợ chồng ông H và bà P1 về việc yêu cầu đòi lại phần đất 251,6 m² là

không có cơ sở để chấp nhận.

[3.4] Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án xác định được chị T và

anh P chỉ nợ bà V số tiền 10.000.000 đồng, bà V đã rút lại yêu cầu và đã được xem

xét đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà V, nên không xem xét.

[3.5] Phần đất tranh chấp được xác định là của vợ chồng ông H nhận

chuyển nhượng bằng giấy tay từ ông Dương Văn N, phần đất hiện nay chưa được

cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án không xác định

được ông N hiện cư trú ở đâu, đồng thời vợ chồng ông H đã xuất trình được giấy tờ

sang nhượng đất và hiện nay cũng không có bất kỳ tranh chấp gì giữa ông N với vợ

chồng ông H liên quan đến phần đất. Do đó, Toà án không đưa ông N vào tham gia

tố tụng là đúng.

[4] Xét về chi phí tố tụng: Tổng tiền chi phí tố tụng đã nộp và thực hiện xong

19.600.100 đồng. Do tài sản tranh chấp được chia đều, nên các đương sự phải chịu

mỗi bên ½ tiền chi phí. Do đó, cần buộc anh P hoàn trả cho chị T số tiền 9.800.050

đồng là đúng theo quy định tại Điều 157, Điều 164 BLTTDS.

[5] Xét về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí ly hôn là 300.000

đồng, án phí cấp dưỡng cho con 300.000 đồng; chị T và anh P phải chịu án phí dân

sự sơ thẩm có giá ngạch đối với giá trị phần tài sản được chia; ông H và bà P1 phải

chịu án phí không giá ngạch là 300.000 đồng theo định tại Điều 147 BLTTDS và

điểm a, b khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 26, điểm a, b khoản 5, điểm a khoản 6

Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội (Nghị quyết số: 326). Số tiền tạm ứng án phí các đương sự đã

dự nộp trước tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

được chuyển thu đối trừ (Đối với bà V thì được hoàn lại toàn bộ).

7

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều

164, Điều 244 của BLTTDS; Điều 33, Điều 38, Điều 51, Điều 56, Điều 59, Điều

62, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 LHNGĐ;

Khoản 4 Điều 3 Thông tư số: 01; mục 3 phụ lục kèm theo và Điều 3 Nghị định số:

64; Khoản 1, 2, 3 Điều 4, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số: 01; Điểm a, b khoản 1

Điều 24, khoản 1 Điều 26, điểm a, b khoản 5, điểm a khoản 6 và điểm b khoản 7

Điều 27 Nghị quyết 326.

1. Về nội dung:

1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Huyền T.

1.1.1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Huyền T ly hôn với anh Võ Văn P.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 136/2015 ngày 31/12/2015 của UBND thị trấn

T, tỉnh Cà Mau hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

1.1.2. Về con chung:

  • + Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:
  • Giao cho anh Võ Văn P trực tiếp nuôi dạy Võ Gia D, sinh 15/12/2016 và Võ
  • Tuấn H1, sinh 12/10/2018. Chị Nguyễn Huyền T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà
  • không ai được cản trở, chị T có nghĩa vụ tôn trọng quyền của các con được sống
  • với anh P; nếu chị T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu
  • đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con thì anh P có quyền
  • yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi
  • con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.
  • + Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Buộc chị Nguyễn Huyền T phải có nghĩa
  • vụ cấp dưỡng cho cháu Võ Gia D, sinh 15/12/2016 và Võ Tuấn H1, sinh
  • 12/10/2018 mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng
  • được chấm dứt theo quy định của pháp luật. Phương thức cấp dưỡng: 01 tháng cấp
  • dưỡng 01 lần, thời gian cấp dưỡng tính kể từ ngày 12/12/2024. Khi có lý do chính
  • đáng và có yêu cầu thì mức cấp dưỡng có thể thay đổi.

1.1.3. Về tài sản chung:

1.1.3.1. Chia tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có tổng

giá trị 480.000.000 đồng.

  • + Anh Võ Văn P được nhận hiện vật đối với toàn bộ tài sản, bao gồm:
  • Quyền sử dụng đất có diện tích 251,6 m² theo đo đạc thực tế - loại đất ở nông thôn
  • và đất trồng cây lâu năm - tại thửa số 13 – tờ bản đồ số 04 (Bản đồ chỉnh lý năm
  • 2022) – đất tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (đất chưa được cấp Giấy
  • chứng nhận quyền sử dụng đất); 01 căn nhà cấp 4 trên phần đất có diện tích 121,3
  • m² có hiện trạng cột bê tông cốt thép, vách xây tường (có ốp gạch cao 1,2 mét lối
  • đi vào phòng khách), nền bê tông lót gạch men có gia cố cừ tràm, mái tol sóng
  • vuông, trần la phong nhựa, đoàn tay kẽm + bên trong nhà có 02 phòng ngủ nền
  • gạch men, vách xây tường có ốp gạch cao 1,2 mét và 01 nhà vệ sinh nền lót gạch,

8

vách xây tường có ốp gạch cao 1,2 mét, có hầm tự hoại (nhà chưa được cấp Giấy

chứng nhận quyền sở hữu nhà). (Tất cả các tài sản anh Võ Văn P đang quản lý).

(Diện tích tứ cận cụ thể và vị trí của phần đất và nhà trên phần đất có bản

trích đo hiện trạng ngày 29/10/2024 của Công ty TNHH Đ thể hiện kèm theo bản

án này).

  • + Buộc anh Võ Văn P có nghĩa vụ giao trả cho chị Nguyễn Huyền T tiền
  • chênh lệch giá trị tài sản là 230.000.000 đồng.

1.1.3.1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Huyền T

đối với các tài sản sân gạch vỉa hè, giếng nước khoan và 09 chỉ vàng 24k.

1.2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của bà Bùi Thị Kim V đối với số

tiền 10.000.000 đồng.

1.3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Võ Văn H và bà Nguyễn Thị

P1. Về việc yêu cầu buộc anh Võ Văn P và chị Nguyễn Huyền T trả lại diện tích

đất theo đo đạc thực tế là 251,6 m² – đất toạ lạc tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà

Mau.

2. Chi phí tố tụng: Buộc anh Võ Văn P hoàn trả cho chị Nguyễn Huyền T số

tiền 9.800.050 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án theo bản án này có đơn yêu cầu thi hành

án mà người phải thi hành án theo bản án này chậm thực hiện nghĩa vụ trả các

khoản tiên nói trên, thì hàng tháng người phải thi hành án theo bản án này còn

phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản

tiền nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • + Chị Nguyễn Huyền T phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, án phí cấp
  • dưỡng cho con 300.000 đồng, án phí chia tài sản 11.500.000 đồng. Chị Nguyễn
  • Huyền T đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng
  • án phí, lệ phí Tòa án số: 0006720 ngày 12/5/2023 và 11.800.000 đồng theo biên lai
  • thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006936 ngày 23/6/2023 của Chi cục thi
  • hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu đối trừ.
  • + Anh Võ Văn P phải nộp án phí chia tài sản 12.500.000 đồng. (Chưa nộp).
  • + Ông Võ Văn H và bà Nguyễn Thị P1 phải nộp án phí 300.000 đồng, ông H
  • và bà P1 đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng
  • án phí, lệ phí Tòa án số: 0004343 ngày 03/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự
  • huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được chuyển sang thu đồi trừ.
  • + Bà Bùi Thị Kim V đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên
  • lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004334 ngày 02/01/2024 của Chi cục thi
  • hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được hoàn lại toàn bộ.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

9

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu

cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy

định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực

hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Cà Mau (gửi mail);

- VKSND huyện Trần Văn Thời;

- Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;

- UBND thị trấn Trần Văn Thời;

- UBND xã Phong Lạc;

- Đương sự;

- Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trương Huỳnh Hải

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 503/2024/HNGĐ-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 503/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, hợp đồng vay tài sản, đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu cho ly hôn, giải quyết con, chia tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger